|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP TỈNH NINH BÌNH Bản án số: 16/2025/HS-ST Ngày: 27 - 3 -2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Minh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Tạ Thị Thế và bà Trần Thị Bích Liên
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hà – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Quang C – Sinh ngày 02 tháng 5 năm 1990 tại: huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: thôn V, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Quang N và con bà Quách Thị H; bị cáo có vợ là Ngô Thị Bích L và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2017, con nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự, nhân thân: không;
Bị cáo hiện đang chấp hành biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 15/2025/HSST-LCĐKNCT ngày 18/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Lê Quang C:
Ông Vũ Ngọc H1 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm T1, tỉnh Ninh Bình. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Anh Lê Huy D, sinh năm 1994, địa chỉ: xóm B, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
+ Anh Nguyễn Mạnh T, sinh năm 1988; địa chỉ: tổ B, phường T, thành phố T, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Người chứng kiến: Anh Phạm Công C1. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Huy D, sinh năm 1994, trú tại xóm B, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình là người sử dụng trái phép chất ma túy. Thông qua mối quan hệ xã hội, D có số điện thoại của Lê Quang C, sinh năm 1990, trú tại thôn V, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình và biết C có ma túy để bán.
Khoảng 17 giờ 15 phút ngày 15/12/2024 do có nhu cầu sử dụng ma túy, Lê Huy D sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh đã qua sử dụng, bên trong lắp sim điện thoại số 0971.481.xxx gọi điện đến số điện thoại 0385.283.xxx của Lê Quang C hỏi mua của C 01 chỉ ma túy Ketamine và 02 viên ma túy Kẹo (MDMA), lúc này C đang ở thành phố N, tỉnh Ninh Bình, C đồng ý bán ma túy cho D và thống nhất giá bán 01 chỉ ma túy Ketamine là 1.200.000 đồng và 02 viên ma túy Kẹo (MDMA) là 500.000 đồng (tổng là 1.700.000 đồng), D đồng ý mua. C và D thống nhất khoảng từ 21 giờ 30 phút đến 22 giờ giao, nhận ma túy ở khu vực gần nhà nghỉ H2 thuộc tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Ninh Bình. Đến khoảng 21 giờ 20 phút, C đi bộ từ nhà ra đường và đi nhờ xe môtô của một người không quen biết mang theo 01 túi ma tuý Ketamine và 02 viên ma túy Kẹo (MDMA) bán cho D. Trên đường đi, C gọi điện thoại cho D hỏi D đang ở đâu để C mang ma tuý đến bán, D trả lời đang ở gần nhà nghỉ H2. Đến 22 giờ, C đi đến đoạn đường L, cách nhà nghỉ H2 khoảng 10 mét, xuống xe, đứng ở lề đường gọi điện cho D thì thấy D đang đi từ trong bụi cây ven đường ra chỗ vỉa hè, C đến chỗ D đứng và thả từ tay phải túi nilon màu trắng bên trong đựng túi ma túy Ketamine và 02 viên ma túy kẹo (MDMA) xuống nền đường cách chân phải của D khoảng 10cm, rồi D đưa cho C số tiền 1.700.000 đồng, C cầm tiền, còn D cúi xuống nhặt túi ma tuý, đúng lúc này tổ công tác Công an thành phố T tuần tra phát hiện, D bỏ chạy đồng thời lấy từ trong túi nilon màu trắng ra 02 viên ma túy K và túi ma túy Ketamine vừa mua được rồi vất lại túi nilon màu trắng xuống nền đường, D vừa bỏ chạy vừa bỏ vào miệng 02 viên ma túy kẹo (MDMA) nhai và nuốt vào bụng, sau đó tiếp tục bỏ túi ma túy Ketamine vào mồm nhai tiếp thì bị tổ công tác giữ lại, Dương nhả từ trong mồm ra 01 túi nilon màu trắng, có viền xanh ở một đầu, bên trong túi nilon đựng chất tinh thể màu trắng, tổ công tác tiến hành thu giữ tại chỗ, D khai nhận là túi ma tuý Ketamine vừa mua của C cùng 02 viên ma túy kẹo (MDMA) với tổng tiền là 1.700.000 đồng, riêng 02 viên ma túy kẹo (MDMA) D đã nhai và nuốt vào trong bụng. Lê Quang C khai nhận vừa bán cho D 01 túi ma túy Ketamine và 02 viên ma túy kẹo (MDMA) với tổng số tiền 1.700.000 đồng và tự giác giao nộp cho tổ công tác số tiền 1.700.000 đồng đang cầm trên tay phải là số tiền vừa bán ma túy cho D. Tổ công tác tiến hành kiểm tra xác định túi nilon D vừa giao nộp là 01 túi nilon màu trắng, có viền xanh ở một đầu, kích thước (3,3x3)cm, trên túi có các vết cắn rách, bên trong túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng, D khai nhận là ma tuý Ketamine. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, thu giữ ở nền đường cách vị trí C đứng 1,5 mét có một túi nilon màu trắng, có viền đỏ ở một đầu, kích thước (8x4,9)cm, D và C khai nhận là vỏ túi nilon đựng 02 viên ma tuý kẹo và túi ma tuý ketamine mà C đã bán cho D, sau đó tổ công tác tiến hành niêm phong vào một phong bì giấy dán kín mép, trên mép dán có chữ ký của D, C, người chứng kiến và cán bộ Công an. Ngoài ra D còn tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh, đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 sim Viettel số
thuê bao 0971481621; C tự giác giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu đen, đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 sim Viettel số thuê bao 0385.283.xxx, tổ công tác đã niêm phong 02 điện thoại trên theo quy định.
Ngày 16/12/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Quang C, tại thôn V, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Kết quả khám xét chỗ ở của Lê Quang C không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng chất tinh thể màu trắng có trong túi nilon màu trắng có viền xanh ở một đầu thu giữ của Lê Huy D có khối lượng là 0,23 gam, ký hiệu QT 01 được niêm phong và gửi đi giám định.
Tại bản kết luận giám định số 41/KL-KTHS-MT ngày 20/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận:
Mẫu gửi giám định ký hiệu QT 01 có khối lượng 0,2251 gam, là ma túy, loại Ketamine.
Ketamine là chất ma túy thuộc bảng danh mục III, số thứ tự 40; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ.
Ngày 16/12/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu đối với Lê Quang C và Lê Huy D. Kết quả Lê Quang C âm tính với các chất ma túy và Lê Huy D dương tính với chất ma túy Ketamine và MDMA.
Ngày 17/12/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành mở niêm phong kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu đen đã qua sử dụng thu giữ của Lê Quang C. Kết quả: chủ sở hữu số thuê bao 0385.283.535 mang tên Lê Quang C, ngày sinh 02/05/1990, thẻ căn cước số [...], cấp ngày 21/7/2022, nơi cấp Cục Trưởng CCSQLHC về trật tự xã hội. Kiểm tra mục tin nhắn văn bản không có nội dung gì liên quan đến ma túy. Kiểm tra mục nhật ký cuộc gọi hiển thị có một cuộc gọi đến từ số điện thoại của Lê Huy D vào lúc 17 giờ 15 phút ngày 15/12/2024, thời lượng 0 phút 34 giây và 02 cuộc gọi đi từ số điện thoại của C đến số điện thoại của D vào hồi 21 giờ 49 phút (thời lượng 00 phút 51 giây) và 22 giờ 00 phút (thời lượng 00 phút 00 giây).
Cùng ngày 17/12/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành mở niêm phong kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh đã qua sử dụng thu giữ của Lê Huy D. Kết quả: chủ sở hữu số thuê bao 0971.481.621 mang tên Lê Huy D, sinh ngày 21/09/1994, thẻ căn cước công dân số [...], cấp ngày 25/4/2021, nơi cấp Cục Trưởng CCSQLHC về trật tự xã hội. Kiểm tra mục tin nhắn văn bản không có nội dung gì liên quan đến ma túy. Kiểm tra danh bạ có số điện thoại 0385.283.xxx lưu trong danh bạ “C”. Kiểm tra mục nhật ký cuộc gọi hiển thị có 02 cuộc gọi từ số máy của C đến số máy của D vào hồi 21 giờ 49 phút (thời lượng 00 phút 51 giây) và 22 giờ 00 phút (cuộc gọi bị nhỡ). Riêng cuộc gọi từ số của điện thoại của D đến số điện thoại của C vào hồi 17 giờ 15 phút ngày 15/12/2024 sau khi gọi xong D đã xóa lịch sử đối với cuộc gọi này.
Tại bản Cáo trạng số 14/CT-VKS ngày 17 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Lê Quang C ra trước Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình để xét xử về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1, khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình giữ nguyên quyết định truy tố, đánh giá tính chất vụ án, xem xét hậu quả do hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Lê Quang C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2, khoản 3 Điều 35, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Lê Quang C từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Quang C từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.
- Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:
* Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: Số tiền 1.700.000 đồng thu giữ của Lê Quang C; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel thu giữ của Lê Quang C.
* Tịch thu tiêu hủy: 01 sim điện thoại có số thuê bao 0385283535 và 01 sim điện thoại có số thuê bao 0971481621; 0,1437 gam Ketamine được niêm phong trong 01 phong bì giấy dán, bên ngoài ghi số: 41/KL-KTHS-MT. Vụ Lê Quang C, sinh năm 1990, xảy ra ngày 15/12/2024 tại phường T, thành phố T, tỉnh Ninh Bình. Mẫu vật hoàn trả gồm: QT01 = 0,1437 gam là ma túy, loại Ketamine, toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong; 01 phong bì giấy dán kín niêm phong theo đúng thủ tục pháp luật còn nguyên vẹn, bên ngoài ghi vật chứng lưu kho: 01 (một) túi nilon màu trắng có viền xanh ở một đầu, trên túi có các vết cắn rách, kích thước (3,3 x 3)cm; 01 phong bì giấy dán kín niêm phong theo đúng thủ tục pháp luật còn nguyên vẹn, bên ngoài ghi vật chứng lưu kho: 01 (một) túi nilon màu trắng có viền đỏ ở một đầu, kích thước (8 x 4,9)cm.
- Về án phí: áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lê Quang C.
Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo Lê Quang C trình bày: Về tội danh và khung hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình thuộc hộ nghèo, bản thân bị cáo đang bị suy thận giai đoạn 5 nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để cho bị cáo được hưởng mức án phù hợp theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 để miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi bị truy tố như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp đã nêu. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt. Bị cáo Lê Quang C nói lời sau cùng tỏ ra ăn năn, hối cải, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên và Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo Lê Quang C tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, vật chứng đã thu giữ, biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận: Hồi 22 giờ ngày 15/12/2024, tại tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Ninh Bình, Lê Quang C đã bán trái phép cho Lê Huy D 02 viên ma túy MDMA (không xác định được khối lượng do D nhai nuốt vào bụng) và 01 túi ma túy loại Ketamine có khối lượng 0,2251 gam với giá 1.700.000 đồng, bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T phát hiện bắt quả tang.
Tại điều 251 của Bộ luật Hình sự quy định:
“Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy
1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước. Bị cáo là người trưởng thành có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc mua bán trái phép chất ma túy là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm nhưng Lê Quang C vẫn cố ý bán trái phép chất ma túy cho Lê Huy D để thu lợi bất chính. Hành vi của bị cáo Lê Quang C đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự nên việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp đối với bị cáo theo bản Cáo trạng là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo bị suy thận, thuộc hộ nghèo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: bị cáo Lê Quang C có nhân thân tốt.
[4] Về hình phạt: Bị cáo là người trưởng thành nhưng không chịu khó lao động, coi thường pháp luật nên hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật và có mức hình phạt tương xứng. Với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời góp phần phòng ngừa chung.
Bị cáo Lê Quang C mua bán trái phép chất ma túy nhằm thu lợi bất chính nên cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Lê Quang C. Tuy nhiên, cũng cần xem xét bị cáo thuộc hộ nghèo để có mức hình phạt phù hợp với hoàn cảnh gia đình của bị cáo.
[5] Về nguồn gốc số ma túy, bị cáo Lê Quang C khai sau khi D gọi điện hỏi mua ma túy, C đã bắt xe ôm sang khu vực huyện T, tỉnh Hà Nam gặp hỏi mua được của một người đàn ông không quen biết 02 viên ma túy kẹo và 01 túi ma túy ke với giá 1.200.000 đồng về bán lại cho D kiếm lời. Do C không biết tên, tuổi, địa chỉ của người đã bán ma túy cho C nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với Lê Huy D có hành vi mua 01 túi ma túy loại Ketamine có khối lượng 0,2251 gam của Lê Quang C để sử dụng. Bản thân Lê Huy D chưa có tiền án, tiền sự. Do vậy hành vi mua 0,2251 gam ma túy loại Ketamine của C để sử dụng, khối lượng chất ma túy chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã chuyển Công an thành phố T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lê Huy D là đúng quy định của pháp luật.
[6] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
Bị cáo Lê Quang C bán ma túy cho Lê Huy D thu lợi bất chính 1.700.000 đồng nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel thu giữ của Lê Quang C là công cụ dùng vào việc phạm tội cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước là phù hợp với quy định điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Đối với sim điện thoại có số thuê bao 0385283535; 01 sim điện thoại có số thuê bao 0971481621; 0,1437 gam Ketamine được niêm phong trong 01 phong bì giấy dán kín, bên ngoài ghi số: 41/KL-KTHS-MT. Vụ Lê Quang C, sinh năm 1990, xảy ra ngày 15/12/2024 tại phường T, thành phố T, tỉnh Ninh Bình. Mẫu vật hoàn
trả gồm: QT01 = 0,1437 gam là ma túy, loại Ketamine, toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong; 01 phong bì giấy dán kín niêm phong theo đúng thủ tục pháp luật còn nguyên vẹn, bên ngoài ghi vật chứng lưu kho: 01 (một) túi nilon màu trắng có viền xanh ở một đầu, trên túi có các vết cắn rách, kích thước (3,3 x 3)cm; 01 phong bì giấy dán kín niêm phong theo đúng thủ tục pháp luật còn nguyên vẹn, bên ngoài ghi vật chứng lưu kho: 01 (một) túi nilon màu trắng có viền đỏ ở một đầu, kích thước (8 x 4,9)cm là công cụ, phương tiện phạm tội, vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, không có giá trị hoặc không sử dụng được cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[7] Về án phí: Bị cáo Lê Quang C thuộc hộ nghèo, có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8] Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251; khoản 2, khoản 3 Điều 35; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Quang C phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Lê Quang C 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Quang C 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).
3. Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
+ 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen đã qua sử dụng, số Imeil: 351402864230191, Imei2: 351402864230209;
+ Số tiền 1.700.000 đồng (một triệu bảy trăm nghìn đồng).
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 0, 1437 gam Ketamine được niêm phong trong 01 (một) phong bì giấy dán kín mép, bên ngoài ghi số: 41/KL-KTHS-MT. Vụ Lê Quang C, sinh năm 1990, xảy ra ngày 15/12/2024 tại phường T, thành phố T, tỉnh Ninh Bình. Mẫu vật hoàn trả gồm: QT01 = 0,1437 gam là ma túy, loại Ketamine, toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong;
- 01 (một) phong bì giấy dán kín niêm phong theo đúng thủ tục pháp luật còn nguyên vẹn, bên ngoài ghi vật chứng lưu kho: 01 (một) túi nilon màu trắng có viền xanh ở một đầu, trên túi có các vết cắn rách, kích thước (3,3 x 3)cm;
- 01 (một) phong bì giấy dán kín niêm phong theo đúng thủ tục pháp luật còn nguyên vẹn, bên ngoài ghi vật chứng lưu kho: 01 (một) túi nilon màu trắng có viền đỏ ở một đầu, kích thước (8 x 4,9)cm;
- 01 (một) sim điện thoại có số thuê bao 0385283535 trên mặt sim có dãy số 8984048000934084296 được niêm phong trong một phong bì giấy theo quy định;
- 01 (một) sim điện thoại có số thuê bao 0971481621, trên mặt sim có dãy số 8984048000901724377, được niêm phong theo quy định;
Chi tiết vật chứng theo ủy nhiệm chi ngày 17/02/2025; Biên bản giao, nhận vật chứng; Biên bản mở niêm phong, giao nhận vật chứng và niêm phong lại vật chứng ngày 17/02/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp.
4. Về án phí:
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lê Quang C.
5. Về quyền kháng cáo: bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Thị Thu Minh |
Bản án số 16/2025/HS-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH về mua bán trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 16/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lê Quang C phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy"
