|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 16/2025/HS-ST Ngày: 25-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Cao Cường.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đoàn Thân;
2. Ông Nguyễn Ngọc Chung.
Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hùng Mạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại Toà án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T - sinh ngày: 30/4/1996, tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn T1, sinh năm: 1973; con bà: Bùi Thị H, sinh năm: 1975; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 29/10/2024 cho đến nay (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Hoàng Thị T2 - là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T (vắng mặt).
- Bị hại: Ông Lê Văn H1 - sinh năm: 1960; nơi cư trú: Thôn S, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).
- Người đại diện theo ủy quyền của bị hại: Anh Lê Văn Q - sinh năm: 1983 (là con của bị hại); nơi cư trú: Thôn S, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa (có mặt).
- Người làm chứng: Ông Tống Thọ C - sinh năm: 1951; nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 03/8/2024, Nguyễn Văn T không có giấy phép lái xe, điều khiển xe mô tô BKS 36B6 - 100.37 đi trên đường liên thôn theo hướng Quốc lộ B đi UBND xã H. Khi đi đến khu vực trước cổng nhà ông Tống Thọ C ở thôn T, xã H, do thiếu chú ý quan sát, không làm chủ được tốc độ và điều khiển xe lấn sang phần đường của xe đi ngược chiều, dẫn đến mặt trước ngoài ốp nhựa bên trái đầu xe mô tô BKS 36B6- 100.37 do Nguyễn Văn T điều khiển va chạm với mặt trước ngoài tay phanh bên trái và mặt trước tay nắm bên trái xe đạp điện (không đeo biển kiểm soát) do ông Lê Văn Hồng điều K đi ngược chiều. Hậu quả: Ông Lê Văn H1, Nguyễn Văn T, xe mô tô và xe đạp điện ngã xuống đường nhựa, ông H1 bị thương nặng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa huyện H, sau đó chuyển Bệnh viện T4 điều trị; T bị sây sát nhẹ, xe đạp điện hư hỏng nhẹ, xe mô tô không hư hỏng gì.
Sau khi sự việc xảy ra, các bên không trình báo Cơ quan Công an để giải quyết. Đến ngày 05/8/2024, gia đình ông Lê Văn H1 mới trình báo nên Cơ quan điều tra không thu mẫu máu của Nguyễn Văn T và ông Lê Văn H1 để phục vụ giám định bởi không đảm bảo khách quan.
* Kết quả khám nghiệm và dựng lại hiện trường: Hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra tại đường liên thôn thuộc thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Mặt đường bê tông bằng phẳng rộng 4,8m. Hai bên đường có rãnh thoát nước, có nắp rãnh rộng 0,6m. Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đường thẳng, không bị che khuất tầm nhìn. Chọn chân cột điện có ký hiệu 2.1/1.5/HB2 bên lề đất phải theo hướng UBND xã H đi QL217B làm điểm mốc chuẩn. Chọn mép bên phải theo hướng UBND xã H đi đường QL217B của đường liên thôn làm mép chuẩn. Tiến hành đặt số ghi nhận các dấu vết, phương tiện liên quan đến hiện trường (đánh số từ (1) đến (5) được thể hiện đầy đủ trong bản ảnh hiện trường, sơ đồ hiện trường) như sau:
- Vị trí số (1): Xe mô tô BKS 36B6 - 100.37 màu sơn xanh, xe đổ ngã bên phải, đầu xe hướng tim đường chếch UBND xã H, đuôi xe hướng mép chuẩn. T3 bánh trước cách mép chuẩn 1,71m, tâm bánh sau cách mép chuẩn 0,67m, cách điểm mốc là 3,6m.
- Vị trí số (2): Các vết cà trượt trên mặt đường có kích thước (3,7 x 0,32)m, các vết có chiều QL217B hướng UBND xã H. Vị trí xa nhất của đầu các vết cách mép chuẩn là 1,4m, gần nhất cách mép chuẩn là 1,06m. Vị trí xa nhất của cuối các vết nằm dưới giá để chân trước bên phải cách mép chuẩn là 1,12m (giá để chân trước bên phải xe mô tô BKS 36B6 - 100.37), gần nhất cách mép chuẩn là 0,89m. Đầu vết cách tâm bánh sau xe mô tô BKS 36B6 - 100.37 là 3,6m.
- Vị trí số (3): Vết cà trượt có kích thước (0,195 x 0,005)m, vết có chiều UBND xã H hướng QL217B. Đầu vết cách mép chuẩn là 0,65m, cách đầu vết cà trượt (2) là 1,68m. Cuối vết cách mép chuẩn là 0,71m. Bề mặt vết bám dính chất màu nâu đỏ dạng kim loại han rỉ.
- Vị trí số (4): Xe đạp điện không gắn biển kiểm soát, xe đổ ngã bên phải. Đầu xe hướng QL217B chếch tim đường, đuôi xe hướng UBND xã H. T3 bánh trước cách mép chuẩn là 1,2m. T3 bánh sau cách mép chuẩn là 0,9m, cách cuối vết cà trượt (3) là 1,47m.
- Vị trí số (5): Ghi nhận vị trí nạn nhân ngã sau khi xảy ra tai nạn. T3 vị trí cách mép chuẩn là 0,64m, cách tâm bánh sau xe đạp điện là 0,98m, nằm ngoài mặt đường.
* Kết quả giám định dấu vết trên phương tiện: Tại Kết luận giám định số 3144/KL-KTHS ngày 28/8/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận:
1. Va chạm giữa xe mô tô BKS 36B6 - 100.37 với xe đạp điện (không đeo biển kiểm soát):
- Điểm va chạm đầu tiên: mặt trước ngoài ốp nhựa bên trái đầu xe mô tô BKS 36B6 - 100.37 (ảnh 3, 4), mặt trước ngoài tay phanh bên trái và mặt trước tay nắm bên trái xe đạp điện (không đeo biển kiểm soát), (ảnh 10, 11, 12).
- Tại thời điểm va chạm, hai phương tiện chuyển động ngược chiều nhau.
- Vị trí va chạm nằm trong khoảng giữa đầu các vết cà trượt trên mặt đường (2) và vết cà trượt trên mặt đường (3), được thể hiện trong biên bản dựng lại hiện trường và sơ đồ hiện trường (kèm theo biên bản dựng lại hiện trường), trên chiều đường bên phải theo hướng từ UBND xã H đi Quốc lộ B.
- Không đủ cơ sở xác định tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra va chạm.
2. Ngoài va chạm với nhau, không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa xe mô tô BKS 36B6 - 100.37, xe đạp điện (không đeo biển kiểm soát) với người hay phương tiện khác.
Kèm theo kết luận giám định: 01 (một) bản ảnh khám phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông nói trên.
* Kết quả giám định tỷ lệ % thương tích:
Tại Bản kết luận giám định số: 7103/KL-KTHS ngày 26/9/2024 của V Bộ C2, kết luận:
Áp dụng phương pháp xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể quy định tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Lê Văn H1 tại thời điểm giám định là: 64% (sáu mươi tư phần trăm).
Đối với tổn thương gãy đầu dưới xương đùi và vỡ xương bánh chè trái của ông Lê Văn H1 hiện còn phương tiện kết xương và đang trong quá trình hồi phục, đề nghị Cơ quan CSĐT trưng cầu giám định bổ sung sau khi các tổn thương này hồi phục.
Tại Bản kết luận giám định bổ sung, số: 9803/KL-KTHS ngày 20/12/2024 của V Bộ C2, kết luận:
Áp dụng phương pháp xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể quy định tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Lê Văn H1 tại thời điểm giám định bổ sung là: 68% (sáu mươi tám phần trăm).
Đối với tổn thương tụ máu dưới màng cứng bán cấp vùng trán - đỉnh - thái dương bên phải của ông Lê Văn H1 trên hồ sơ bệnh án và các phim chụp tại Bệnh viện Đa khoa huyện H và Bệnh viện T4 trong quá trình điều trị không có hình ảnh tổn thương tụ máu dưới màng cứng vùng trán - đỉnh - thái dương bên phải nên không có cơ sở xếp tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể đối với tổn thương này.
* Kết quả định giá thiệt hại tài sản: Tại Bản kết luận định giá tài sản số 02/2025/KLĐG ngày 14/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận: Tổng giá trị định giá tài sản (bao gồm chi phí sửa chữa, thay mới những hư hỏng, thiệt hại) của xe đạp điện M133 Plus, đã qua sử dụng là: 410.000 đồng (bốn trăm mười nghìn đồng).
Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát camera, nhưng tại khu vực xảy ra tai nạn không có camera, nên không thu giữ, trích xuất được hình ảnh liên quan.
* Về việc tạm giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng: Quá trình xác minh, điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành tạm giữ:
- 01 (một) xe mô tô BKS 36B6 - 100.37, nhãn hiệu Honda Wave Alpha, đã qua sử dụng;
- 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS 36B6 - 100.37;
- 01 (một) xe đạp điện M133 Plus màu đen, đã qua sử dụng.
Quá trình điều tra, xác định xe mô tô BKS 36B6 - 100.37 là của bà Bùi Thị H (mẹ đẻ của Nguyễn Văn T), bà H không biết sự việc T sử dụng xe mô tô này tham gia giao thông và gây tai nạn. Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô BKS 36B6 - 100.37 cùng giấy tờ liên quan cho chủ sở hữu là bà Bùi Thị H; trả lại xe đạp điện M133 Plus cho chủ sở hữu là ông Lê Văn H1.
* Về dân sự:
Người đại diện theo ủy quyền của bị hại yêu cầu Nguyễn Văn T bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bị hại (ông Lê Văn H1) với số tiền 332.173.000 đồng (ba trăm ba mươi hai triệu một trăm bảy mươi ba nghìn đồng). Ngày 12/8/2024, T đã tác động và cùng gia đình bồi thường một phần cho ông H1 với số tiền là 52.000.000 đồng (năm mươi hai triệu đồng).
Đối với thiệt hại của xe đạp điện M133 Plus, người đại diện theo ủy quyền của bị hại không có yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản. Xe mô tô BKS: 36B6 - 100.37 thì không bị hư hỏng, thiệt hại gì.
Tại Bản cáo trạng số 13/CT-VKSHT ngày 12/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại Văn bản thỏa thuận ngày 20/02/2025, bị cáo Nguyễn Văn T đã tác động và cùng với gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bị hại - ông Lê Văn H1 với tổng số tiền là 180.000.000 đồng (một trăm tám mươi triệu đồng), cụ thể: Ngày 12/8/2024, bồi thường số tiền 52.000.000 đồng; ngày 20/02/2025, bồi thường số tiền 128.000.000 đồng. Người đại diện theo ủy quyền của bị hại là anh Lê Văn Q đã nhận đủ số tiền bồi thường thiệt hại theo đúng như thỏa thuận, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm đồng thời có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo và được cải tạo tại địa phương.
Người bào chữa cho bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt gửi kèm bản luận cứ bào chữa cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa truy tố là hoàn toàn đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.
Người đại diện theo ủy quyền của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo và được cải tạo tại địa phương.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
- Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm;
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;
- Về trách nhiệm dân sự:
- + Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe của bị hại, đã được các bên thực hiện xong theo đúng như thỏa thuận và không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- + Đối với thiệt hại của xe đạp điện M133 Plus, người đại diện theo ủy quyền của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường; xe mô tô BKS: 36B6 - 100.37 không bị hư hỏng, thiệt hại gì; các bên đều không có yêu cầu, đề nghị gì khác về việc bồi thường thiệt hại về tài sản, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về vật chứng: Vật chứng của vụ án đã được xử lý trong giai đoạn điều tra nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại bản luận cứ bào chữa cho bị cáo - Trợ giúp viên pháp lý Hoàng Thị T2 nêu quan điểm: Thống nhất về tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn T. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cụ thể: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động và cùng với gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại và được người đại diện theo ủy quyền của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, đã hoàn thành nghĩa vụ phục vụ tại ngũ và hiện đang bị bệnh rối loạn đông máu/TD thiếu yếu tố X, thiếu máu do thiếu sắt, thường xuyên phải điều trị tại bệnh viện, hơn nữa hành vi phạm tội của bị cáo là do lỗi vô ý. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất của khung hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật; đề nghị không xem xét về trách nhiệm dân sự, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo thống nhất với luận tội và không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Khi nói lời sau cùng, bị cáo nhận tội và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt đến mức thấp nhất cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản dựng lại hiện trường, kết quả khám phương tiện, các kết luận giám định, vật chứng vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 03/8/2024, Nguyễn Văn T không có giấy phép lái xe, điều khiển xe mô tô BKS 36B6 - 100.37 đi trên đường liên thôn thuộc thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, theo hướng Quốc lộ B đi UBND xã H. Khi đi đến khu vực trước cổng nhà ông Tống Thọ C ở thôn T, xã H, T đã thiếu chú ý quan sát, không làm chủ được tốc độ và điều khiển xe môtô lấn sang phần đường của xe đi ngược chiều, nên đâm va vào xe đạp điện do ông Lê Văn Hồng điều K đi ngược chiều. Hậu quả, ông Lê Văn H1 bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 68% (sáu mươi tám phần trăm).
Bị cáo Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô BKS 36B6 - 100.37 đã vi phạm khoản 9, khoản 23 Điều 8; khoản 1 Điều 9 và khoản 1 Điều 17 của Luật Giao thông đường bộ số 23/2008/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14 và Luật số 44/2019/QH14, về: tránh xe đi ngược chiều, không có giấy phép lái xe theo quy định, dẫn đến tai nạn và gây thương tích cho 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 68% (sáu mươi tám phần trăm).
Do đó, hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Trong vụ án này, bị hại - ông Lê Văn Hồng điều K xe đạp điện tham gia giao thông đã đi đúng phần đường và đi bên phải theo chiều đi của mình nên ông H1 không có lỗi.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi, hậu quả: Hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, có lỗi vô ý, có tính chất rất nghiêm trọng, không những trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông, gây thiệt hại về sức khỏe của người khác mà còn ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Vì vậy, cần xử lý nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật, đồng thời để giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Bị cáo Nguyễn Văn T có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động và cùng với gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại và được người đại diện theo ủy quyền của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo có ông ngoại là Bùi Xuân C1, bà ngoại là Trịnh Thị O là người có công với cách mạng, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt:
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, hiện đang bị bệnh rối loạn đông máu/TD thiếu yếu tố X, thiếu máu do thiếu sắt, thường xuyên phải điều trị tại bệnh viện, hơn nữa, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự cũng đủ điều kiện cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo đã tác động và cùng với gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bị hại với tổng số tiền đúng như thỏa thuận là 180.000.000 đồng (một trăm tám mươi triệu đồng). Người đại diện theo ủy quyền của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với thiệt hại của xe đạp điện M133 Plus, người đại diện theo ủy quyền của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường; xe mô tô BKS: 36B6 - 100.37 không bị hư hỏng, thiệt hại gì; các bên đều không có yêu cầu, đề nghị gì khác về việc bồi thường thiệt hại về tài sản, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về vật chứng: Đối với xe mô tô BKS 36B6 - 100.37, xe đạp điện M133 Plus, quá trình điều tra, xác định xe mô tô BKS 36B6 - 100.37 là tài sản hợp pháp của bà Bùi Thị H (mẹ đẻ của bị cáo), bà H không biết việc bị cáo sử dụng xe mô tô này tham gia giao thông và gây tai nạn; xe đạp điện M133 Plus là tài sản hợp pháp của ông Lê Văn H1. Cơ quan điều tra đã quyết định xử lý, trả lại xe mô tô BKS 36B6 - 100.37 cùng giấy tờ liên quan cho chủ sở hữu là bà Bùi Thị H, trả lại xe đạp điện M133 Plus cho chủ sở hữu là ông Lê Văn H1. Việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo thuộc hộ cận nghèo và có đơn đề nghị miễn án phí nên Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- - Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
- - Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (sáu mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/3/2025).
Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho UBND xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- - Về án phí và quyền kháng cáo:
- Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn T.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Cao Cường |
Bản án số 16/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HÓA về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 16/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"
