|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 16/2025/HS-ST Ngày 24 - 3- 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Đăng Thiện
Ông Nguyễn Văn Sâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Bình - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2025/TLST- HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 3 năm 2025 đối với Bị cáo: Lê Đình C, sinh ngày 18 tháng 12 năm 1973 tại xã P, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Căn cước công dân số: [...], cấp ngày 17/5/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH; Nơi cư trú: Thôn Đ xã P, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Lê Đình K (đã chết); Mẹ đẻ: Bùi Thị D, sinh năm 1944; Gia đình có 04 anh em, Bị cáo là con thứ 1; Tiền án; Tiền sự: Không;
Nhân thân:
- - Ngày 14/4/2006 bị Toà án nhân dân quận Tân Phú, Thành Phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù giam về tội: “ Trộm cắp tài sản”. Ngày 07/9/2006 đã nộp xong án phí. Ngày 12/10/2007 chấp hành xong hình phạt tù.
- - Ngày 30/7/2008 bị Toà án nhân dân quận 1, Thành Phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù giam về tội: “ Trộm cắp tài sản”. Ngày 06/10/2009 đã nộp xong án phí. Ngày 20/8/2010 chấp hành xong hình phạt tù.
- - Ngày 25/11/2011 bị Toà án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xử phạt 09 tháng tù giam về tội: “ Trộm cắp tài sản”. Ngày 18/4/2012 chấp hành xong hình phạt tù.
- - Ngày 21/7/2015 bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xử phạt 07 năm tù giam về tội: “ Mua bán trái phép chất ma tuý”. Ngày 30/9/2016 đã nộp xong án phí. Ngày 19/02/2020 chấp hành xong hình phạt tù.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/01/2025 đến ngày 21/02/2025 được thay thế Biện pháp ngăn chặn: Bảo lĩnh.
Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyên lợi nghĩa vụ liên quan:
- Chị Trần Thị Thanh H, sinh năm 1989. Vắng mặt
Địa chỉ: Thôn C xã P, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. - Anh Cao Hữu H1, sinh năm 1991. Vắng mặt
Địa chỉ: Thôn D xã P, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. - Anh Lê Thế T, sinh năm 1989. Vắng mặt
Địa chỉ: Thôn H xã P, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
- Người làm chứng: Chị Đỗ Thanh H2, sinh năm 1990. Vắng mặt
Địa chỉ: Thôn B xã P, huyện T, tỉnh Thanh Hóa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 19/01/2025, Cơ quan CSĐT Công an huyện T nhận được Đơn trình báo của chị Trần thị Thanh H (sinh năm 1989, trú tại thôn C xã P, huyện T) về việc bản thân có vay của Lê Đình C với số tiền 40.000.000đ, mức lãi suất 5.000 đồng/1 triệu đồng/1 ngày và cung cấp những tài liệu có liên quan.
Cùng ngày 19/01/2025, Cơ quan điều tra Công an huyện T ra Lệnh khám xét khẩn cấp số 55/LKX-ĐCSHS đối với người và chỗ ở của Lê Đình C. Quá trình khám xét Cơ quan điều tra đã thu giữ tài liệu, đồ vật liên quan đến hành vi cho vay lãi nặng gồm:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 2F màu xanh đen số imeil: 869563044822655, imei 2: 869563044822648, gắn thẻ sim số 0985.379.486 và 0967.991.279.
- 01 điện thoại di động loại bàn phím, nhãn hiệu Nolia màu đen, số imei: 356962090935496, găn sim nhà mạng Vietel, trên thân sim in dãy số 8984048000920730872.
- Tiền Ngân hàng N 46.150.000đ.
- 01 thẻ ATM Ngân hàng M1, số thẻ 9704222044589679 mang tên Lê Đình C.
- 01 thẻ ATM ngân hàng S, số thẻ 9704030291722947 mang tên Lê Đình C.
- 02 Giấy vay tiền mang tên Lê Thế T, sinh năm 1989, trú tại thôn H, xã P, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
- 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA FORTUNER màu xám biển kiểm soát 36A-946.66 và đăng ký xe ô tô mang tên Lê Đình C.
Nhận thức được hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật, quá trình điều tra Lê Đình C đã khai nhận hành vi cho Trần Thị Thanh H, Cao Hữu H1 và Lê Thế T vay tiền và thu lãi nặng cụ thể như sau:
1.C cho Trần Thị Thanh H, sinh năm 1989, trú tại: Thôn C xã P, huyện T, tỉnh Thanh Hóa vay lãi nặng:
Ngày 22/6/2022 H đến nhà C tại thôn Đ xã P, huyện T hỏi vay số tiền 30.000.000đ thì C đồng ý. Theo thoả thuận C tính lãi suất với H là 5000đ/1 triệu/1 ngày, mỗi tháng là 4.500.000đ. C yêu cầu H viết giấy vay và ghi trong giấy vay là không tính lãi. Sau khi H viết giấy xong thì C cắt lãi trước 1 tháng là 4.5000.000₫ rồi C đưa tiền mặt cho H là 25.500.000đ. Đối với khoản vay này H trả lãi cho C đều đặn mỗi tháng 4.500.000đ.
Đến ngày 12/9/2022 H chuyển khoản trả bớt tiền gốc cho C 10.000.000đ và 1.500.00đ tiền lãi nên chỉ còn vay gốc 20.000.000đ. Hàng tháng Huyển trả lãi cho C 3.000.000đ. H sử dụng số tài khoản Ngân hàng M1 0388048951 mang tên Trần Thị Thanh H chuyển tiền lãi đến số tài khoản ngân hàng M1 4680156786789 mang tên Lê Đình C hoặc số tài khoản ngân hàng A mang tên Đỗ Thanh H2 theo yêu cầu của C.
Ngày 14/01/2023 H tiếp tục đến nhà C vay thêm 10.000.000đ, lãi suất C vẫn tính 5000đ/1 triệu/1 ngày. C cắt lãi trước 01 tháng của khoản vay này là 1.500.000đ, trừ tiền lãi 4.500.000₫ H còn nợ trước đó chưa thanh toán, C chỉ chuyển khoản cho H số tiền 4.000.000đ. C sử dụng số tài khoản ngân hàng M1 chuyển tiền đến số tài khoản Ngân hàng M1 0388048951 của Trần Thị Thanh H. Đối với khoản vay này hàng tháng H trả lãi cho C 1.500.000đ.
Đến ngày 10/3/2023 H tiếp tục vay thêm 10.000.000đ, lãi suất C vẫn tính 5000đ/1 triệu/1 ngày. C cũng cắt lãi trước 01 tháng của khoản vay này là 1.500.000đ và đưa tiền mặt cho H 8.500.000đ. Hàng tháng H cũng trả lãi cho C 1.500.000đ qua hình thức chuyển khoản.
Huyền trả lãi hàng tháng đối với các khoản vay trên cho C tính đến hết tháng 12/2023 do khó khăn nên H chưa trả thêm lãi. Đến tháng 5/2024 C gọi H sang nói chuyện và tính tổng H còn nợ C 05 tháng lãi là 30.000.000đ. C cho H 2.000.000₫, còn lại 28.000.000₫ C bảo H viết hai giấy vay mới: Một khoản vay 10.000.000₫ và một khoản vay 18.000.000đ coi như tiền lãi Huyền nợ được tính vào gốc. Từ tháng 6/2024 do thấy H hoàn cảnh khó khăn nên C chỉ tính tiền nợ gốc là 40.000.000đ và tiền lãi cộng vào gốc là 28.000.000đ, không tính thêm tiền lãi cho H nữa. Tổng Cường tính H còn nợ C số tiền 68.000.000đ.
Đến ngày 21/6/2024 H chuyển khoản trả nợ cho C số tiền 1.000.000₫ nên hiện tại H còn nợ C số tiền 67.000.000đ (gồm 40.000.000đ tiền gốc và 27.000.000₫ tiền lãi).
Ngày 12/01/2023 C có nhờ Đỗ Thanh H2, sinh năm 1990, trú tại thôn B xã P, huyện T, tỉnh Thanh Hóa một lần nhận hộ tiền lãi 1.500.000đ của Trần Thị Thanh H chuyển khoản trả cho C.
Xác định số tiền thu lợi bất chính của khoản vay:
- Khoản vay ngày 22/6/2022: Huyền vay số tiền 30.000.000đ, lãi suất 5000đ/1 triệu/1 ngày. Đến ngày 12/9/2022 Huyển trả gốc 10.000.000₫ và 1.500.000đ tiền lãi nên số tiền gốc còn lại 20.000.000đ. Do H đã trả gốc 10.000.000đ ngày 12/9/2022 nên đã hết thời hiệu truy cứu TNHS đối với số tiền vay 10.000.000đ. Vì vậy chỉ tính truy cứu trách nhiệm Hình sự đối với khoản vay gốc là 20.000.000đ đến ngày 22/5/2024(thời điểm C không tính thêm lãi của khoản vay).
- Số ngày vay: 701 ngày(tính đến 22/5/2024)
- Lãi suất phải trả theo thoả thuận: 70.100.000₫
- Lãi suất tính lãi 182,5%/1 năm, gấp 9.125 lần lãi suất tối đa theo quy định tại điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Lãi tối đa theo quy định 7.682.191đ;
- Số tiền thu lợi bất chính 62.417.809₫.
- Khoản vay ngày 14/01/2023:
- Số ngày vay: 487 ngày(tính đến 14/5/2024)
- Lãi suất phải trả theo thoả thuận: 24.350.000₫
- Lãi suất tính lãi 182,5%/1 năm, gấp 9.125 lần lãi suất tối đa theo quy định tại điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Lãi tối đa theo quy định 2.668.493đ;
- Số tiền thu lợi bất chính 21.681.507₫.
- Khoản vay ngày 10/3/2023
- Số ngày vay: 428 ngày(tính đến 10/5/2024)
- Lãi suất phải trả theo thoả thuận: 21.400.000₫
- Lãi suất tính lãi 182,5%/1 năm, gấp 9.125 lần lãi suất tối đa theo quy định tại điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Lãi tối đa theo quy định 2.345.205₫;
- Số tiền thu lợi bất chính 19.054.795₫.
Tổng số tiền C thu lợi bất chính từ các khoản vay của H là 103.154.111₫ – 2.000.000₫(C bớt lãi cho H) = 101.154.111₫.
2. C cho Cao Hữu H1, sinh năm 1991, trú tại thôn D xã P, huyện T, tỉnh Thanh Hóa vay lãi nặng:
Ngày 03/3/2023, C cho H1 vay 20.000.000 đồng. Lãi suất 5.000đ/1triệu/1ngày, mỗi tháng tiền lãi là 3.000.000đ. C yêu cầu H1 viết Giấy vay tiền và trong giấy ghi không tính lãi suất. Sau khi H1 viết giấy vay xong thì C cắt lãi trước 01 tháng là 3.000.000đ. C đưa cho H1 3.000.000đ tiền mặt và chuyển khoản cho H1 số tiền 14.000.000đ. C sử dụng số tài khoản ngân hàng M1 chuyển tiền đến số tài khoản Ngân hàng M1 2836999956789 mang tên Cao Hữu H1.
Hàng tháng H1 sử dụng số tài khoản Ngân hàng M1 2836999956789 mang tên Cao Hữu H1 hoặc tài khoản Ngân hàng M1 8886856786789 mang tên Vi Thị Thu H3(vợ H1) để chuyển tiền lãi đến số tài khoản ngân hàng M1 4680156786789 mang tên Lê Đình C. Lần cuối H1 đóng lãi cho C là vào tháng 6/2024 bằng tiền mặt. Sau đó H1 nói với C điều kiện kinh tế khó khăn nên xin C tính tiền lãi cắt trước cộng với lãi đã trả đến ngày 03/7/2024 không tính lai thêm nữa và chỉ tính tiền gốc cho H1 là 20.000.000đ. Đến ngày 04/7/2024 H1 chuyển khoản trả cho C số tiền gốc 5.000.000đ. Hiện tại H1 còn nợ C số tiền gốc là 15.000.000đ.
Xác định số tiền thu lợi bất chính của khoản vay:
- Số ngày vay: 489 ngày(tính đến 03/7/2024)
- Lãi suất phải trả theo thoả thuận: 48.000.000₫
- Lãi suất tính lãi 182,5%/1 năm, gấp 9.125 lần lãi suất tối đa theo quy định tại điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Lãi tối đa theo quy định: 5.358.904₫;
- Số tiền thu lợi bất chính: 42.641.096₫.
3. C cho Lê Thế T, sinh năm 1989, trú tại thôn H xã P, huyện T vay lãi nặng:
Ngày 16/02/2024 T đến nhà C hỏi vay số tiền 20.000.000đ thì C đồng ý. Theo thoả thuận C tính lãi suất là 5000đ/1 triệu/1 ngày, mỗi tháng là 3.000.000đ. C yêu cầu T viết giấy vay và ghi trong giấy vay là không tính lãi. C không cắt lãi trước, C đưa tiền mặt cho T là 5.000.000đ và chuyển khoản 15.000.000đ vào tài khoản ngân hàng M1 0982831648 của T. Đối với khoản vay này T chưa trả lãi và gốc cho C.
Ngày 26/4/2024 T tiếp tục đến nhà C vay số tiền 15.000.000đ, lãi suất theo thoả thuận là 5000đ/1 triệu/1 ngày, tức là 2.250.000đ/1 tháng. C cũng yêu cầu T viết trong giấy là không tính lãi. C không cắt lãi trước và đưa tiền mặt cho T 15.000.000đ. T chưa trả gốc và lãi cho C.
Đến ngày 21/3/2025 T đã trả toàn bộ số tiền gốc 35.000.000đ cho C. Toàn bộ số tiền lãi T không trả cho C.
Xác định số tiền thu lợi bất chính của khoản vay:
- Khoản vay ngày 16/02/2024:
- Số ngày vay: 338 ngày(tính đến 19/01/2025)
- Lãi suất phải trả theo thoả thuận: 33.800.000₫
- Lãi suất tính lãi 182,5%/1 năm, gấp 9.125 lần lãi suất tối đa theo quy định tại điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Lãi tối đa theo quy định: 3.704.109₫;
- Số tiền thu lợi bất chính: 30.095.891.
- Khoản vay ngày 26/4/2024:
- Số ngày vay: 268 ngày (tính đến 19/01/2025)
- Lãi suất phải trả theo thoả thuận: 20.100.000₫
- Lãi suất tính lãi 182,5%/1 năm, gấp 9.125 lần lãi suất tối đa theo quy định tại điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Lãi tối đa theo quy định: 2.202.739đ;
- Số tiền thu lợi bất chính: 17.897.261đ.
Tổng số tiền C thu lợi bất chính từ các khoản vay của T là 47.993.152₫.
Như vậy: Tổng số tiền C thu lợi bất chính đối với tất cả các khoản vay là: 101.154.111đ + 42.641.096đ + 47.993.152đ = 191.788.359₫ (Một trăm chín mươi mốt triệu, bảy trăm tám mươi tám nghìn, ba trăm năm mươi chín đồng).
Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen là của bà Bùi Thị D, sinh năm 1944, trú tại thôn Đ xã P, huyện T (mẹ C); Số tiền 46.150.000đ xác định là của Lê Đình M (em trai C); 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA FOTUNER màu xám, biển kiểm soát 36A-946.66; Đăng ký xe ô tô; 01 Thẻ ATM ngân hàng S1 số thẻ 9704030291722947 đều mang tên Lê Đình C. Quá trình điều tra xác định những đồ vật, tài liệu nêu trên không phải là vật chứng của vụ án, do đó Cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu.
Đối với Đỗ Thanh H2 không biết và không tham gia việc C cho vay lãi nặng nên không có căn cứ xử lý.
Về Dân sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Cao Hữu H1 và Trần Thị Thanh H đã được C bồi thường nên không có yêu cầu gì thêm. Lê Thế T đã trả gốc và chưa trả lãi cho C nên không có yêu cầu bồi thường dân sự.
Vật chứng vụ án gồm: 02 giấy vay tiền mang tên Lê Thế T chuyển theo hồ sơ vụ án; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 2F màu xanh đen số imeil: 869563044822655, imei 2: 869563044822648, gắn thẻ sim số 0985.379.486 và 0967.991.279; 01 thẻ ATM Ngân hàng M1, số thẻ 9704222044589679 mang tên Lê Đình C. Hiện đang quản lý theo quy định pháp luật.
Tại bản cáo trạng số 29/CT - VKSTX ngày 27/02/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân truy tố Bị cáo Lê Đình C về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 BLHS.
Tại phiên tòa Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Lê Đình C phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”;
Đề nghị áp dụng khoản 2, 3 Điều 201; Điểm s khoản 1, 2 điều 51; Điểm g khoản 1 điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Đề nghị xử phạt: Bị cáo Lê Đình C từ 08(tám) tháng đến 10(mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/01/2025 đến ngày 21/02/2025. Phạt tiền bổ sung Bị cáo Lê Đình C từ 30.000.000đ đến 50.000.000₫.
Buộc Bị cáo chịu án phí theo quy định pháp luật; Đề nghị căn cứ điểm a, b khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, b khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Đề nghị: Truy thu đối với Bị cáo Lê Đình C nộp vào ngân sách Nhà nước gồm gồm: Số tiền gốc 40.000.000đ; Tiền lãi đã thu của chị Trần Thị Thanh H là 12.695.889đ; Đã thu của anh Cao Hữu H1 là 5.358.904đ; Truy thu đối với Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm: Chị Trần Thị Thanh H số tiền gốc 40.000.000đ; Anh Cao Hữu H1 số tiền gốc 15.000.000đ. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 2F màu xanh đen số imei1: 869563044822655, imei 2: 869563044822648, gắn thẻ sim số 0985.379.486 và 0967.991.279. Tịch thu tiêu huỷ 01 thẻ ATM Ngân hàng M1, số thẻ 9704222044589679 mang tên Lê Đình C
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Bị cáo xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên toà Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của Bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của Bị cáo trong quá trình điều tra; Đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như biên bản thu giữ tang vật, lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều phản ánh thống nhất khách quan: Trong thời gian từ tháng 6/2022 đến tháng 01/2025, Bị cáo Lê Đình C đã cho chị Trần Thị Thanh H vay số tiền gốc là 40.000.000đ; Cho anh Cao Hữu H1 vay số tiền gốc là 20.000.000đ; Cho anh Lê Thế T vay số tiền gốc là 35.000.000đ. Tổng số tiền gốc C cho vay là 95.000.000đ, với mức lãi suất đã thu 182,5%/1 năm, cao gấp 9,125 lần mức lãi suất cao nhất (20%/năm) mà Bộ luật Dân sự cho phép. Tổng số tiền thu lời bất chính là 191.788.359₫. Do đó hành vi của Bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Tổng số tiền Bị cáo thu lời bất chính là 191.788.359₫ nên Bị cáo phải chịu tình tiết định khung quy định tại khoản 2 điều 201 Bộ luật Hình sự.
Vì vậy có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận: Bị cáo Lê Đình C phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 BLHS.
Cáo trạng số 29/CT - VKSTX ngày 27/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân truy tố Bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Về mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của Bị cáo: Hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, Hành vi đó đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Vì vậy cần phải xử phạt nghiêm minh để giáo dục Bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe phòng ngừa tội phạm chung trong toàn xã hội.
[4]. Về nhân thân của Bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì HĐXX thấy rằng: Bị cáo C có nhân thân xấu: Ngày 14/4/2006 bị Toà án nhân dân quận Tân Phú, Thành Phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù giam về tội: “Trộm cắp tài sản”. Ngày 07/9/2006 đã nộp xong án phí. Ngày 12/10/2007 chấp hành xong hình phạt tù; Ngày 30/7/2008 bị Toà án nhân dân quận 1, Thành Phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù giam về tội: “ Trộm cắp tài sản”. Ngày 06/10/2009 đã nộp xong án phí. Ngày 20/8/2010 chấp hành xong hình phạt tù; Ngày 25/11/2011 bị Toà án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xử phạt 09 tháng tù giam về tội: “ Trộm cắp tài sản”. Ngày 18/4/2012 chấp hành xong hình phạt tù; Ngày 21/7/2015 bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xử phạt 07 năm tù giam về tội: “ Mua bán trái phép chất ma tuý”. Ngày 30/9/2016 đã nộp xong án phí. Ngày 19/02/2020 chấp hành xong hình phạt tù. Bị cáo không có Tiền án, Tiền sự. Bị cáo phạm tội hai lần trở lên nên Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự là “Phạm tội hai lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà Bị cáo khai báo thành khẩn; Bị cáo đã tự nguyện trả lại tiền thu lợi bất chính cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; Bị cáo có mẹ đẻ là bà Bùi Thị D có thời gian tham gia kháng chiến chống Mỹ nên Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 điều 51 BLHS. HĐXX sẽ giảm nhẹ một phần hình phạt cho Bị cáo để Bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật.
[5] Về hình phạt: Bị cáo có nhân thân xấu nên HĐXX xét thấy cần phải cách ly xã hội đối với Bị cáo mới đủ điều kiện để giáo dục Bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: HĐXX xét thấy để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật cần phải phạt bổ sung đối với Bị cáo với mức 30.000.000đ sung quỹ Nhà nước.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 2F màu xanh đen số imeil: 869563044822655, imei 2: 869563044822648, gắn thẻ sim số 0985.379.486 và 0967.991.279 và 01 thẻ ATM Ngân hàng M1, số thẻ 9704222044589679 mang tên Lê Đình C đều là công cụ, phương tiện phạm tội nên HĐXX căn cứ điểm a khoản 1 điều 47 BLHS và điểm a khoản 2 điều 106 BLTTHS tịch thu sung quỹ Nhà nước và tiêu huỷ.
Trong tổng số tiền gốc 95.000.000đ Bị cáo cho vay thì số tiền gốc chị H còn nợ của Bị cáo là 40.000.000đ; Anh H1 đã trả cho Bị cáo số tiền gốc là 5.000.000đ, còn nợ Bị cáo là 15.000.000đ; Anh T đã trả cho Bị cáo số tiền gốc là 35.000.000đ.
Đối với số tiền gốc là công cụ, phương tiện phạm tội và số tiền lãi do phạm tội mà có nên HĐXX căn cứ điểm a, b khoản 1 điều 47 BLHS và điểm a, b khoản 2 điều 106 BLTTHS truy thu nộp ngân sách Nhà nước. Cụ thể: Truy thu đối với Bị cáo Lê Đình C gồm: Số tiền gốc là 40.000.000đ; Tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 điều 468 Bộ luật dân sự đã thu của chị Trần Thị Thanh H là 12.695.889₫; Đã thu của anh Cao Hữu H1 là 5.358.904đ. Truy thu đối với Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm: Chị Trần Thị Thanh H số tiền gốc là 40.000.000đ; Anh Cao Hữu H1 số tiền gốc 15.000.000đ.
Đối với số tiền lãi Bị cáo đã thu quá quy định pháp luật của những Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là tiền thu lời bất chính từ hành vi phạm tội nên buộc Bị cáo phải trả lại cho những Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Bị cáo đã trả cho những Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì khác nên HĐXX không xem xét.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định tại khoản 2 điều 136 BLTTHS năm 2015 và điểm a khoản 1 điều 23 Nghị Quyết quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1, 4 điều 331 và khoản 1 điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ: Khoản 2, 3 Điều 201; Điểm s khoản 1, 2 điều 51; Điểm g khoản 1 điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự;
- - Tuyên bố: Bị cáo Lê Đình C phạm tội: "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự"
- - Xử phạt: Bị cáo Lê Đình C 08(tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án được trừ thời gian đã tạm giữ tạm giam từ ngày 19/01/2025 đến ngày 21/02/2025. Phạt tiền bổ sung Bị cáo Lê Đình C 30.000.000đ.
- - Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào các điểm a, b khoản 1 điều 47 BLHS và điểm a, b khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 2F màu xanh đen số imeil: 869563044822655, imei 2: 869563044822648, gắn thẻ sim số 0985.379.486 và 0967.991.279;
- Tịch thu tiêu huỷ 01 thẻ ATM Ngân hàng M1, số thẻ 9704222044589679 mang tên Lê Đình C.
- Truy thu nộp ngân sách Nhà nước đối với Bị cáo Lê Đình C gồm: Số tiền gốc là 40.000.000đ; Tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 điều 468 Bộ luật dân sự đã thu của chị Trần Thị Thanh H là 12.695.889₫; Đã thu của anh Cao Hữu H1 là 5.358.904đ; Truy thu đối với Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm: Chị Trần Thị Thanh H số tiền gốc là 40.000.000đ; Anh Cao Hữu H1 số tiền gốc 15.000.000đ.
- - Về án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 BLTTHS năm 2015 và điểm a khoản 1 điều 23 Nghị Quyết quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.
Buộc Bị cáo Lê Đình C phải chịu 200.000đ án phí HSST nộp ngân sách Nhà nước.
- - Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1, 4 điều 331 và khoản 1 điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Hằng |
Bản án số 16/2025/HS-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 16/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cường cho vay lãi nặng
