|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU Bản án số: 16/2025/HS-ST Ngày: 25 - 02 - 2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Đạt
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đình Hưởng
Bà La Thị Thu Nga
-Thư ký phiên toà: Bà Phùng Thị Trang-Thư ký TAND huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu H - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 11/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
-
Nguyễn Văn L, sinh ngày 30/7/2001 tại Bình Thuận; quê quán: Vĩnh Long;
HKTT: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận (Chỗ ở tại thời điểm xét xử: Nhà
tạm giữ Công an huyện X); nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc:
Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn
Văn L1 và bà Lê Thị Thanh V.
Tiền án, tiền sự: 00.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/10/2024. (có mặt)
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 2002; nơi cư trú: Tổ C, khu phố G, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. (có mặt)
- Ông Nguyễn Phương T, sinh năm 2000; nơi cư trú: Khu phố G, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ 20 phút ngày 26/9/2024, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về HS-KTMT phối hợp Công an xã H tuần tra thuộc ấp P, xã H phát hiện Nguyễn Văn L điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu đỏ, biển số: 86 B6-590.83 chở Nguyễn Phương T nên tiến hành dừng xe kiểm tra, phát hiện Nguyễn Văn L tàng trữ trái phép 1,5979 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.
-
Bị cáo L khai: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 25/09/2024, L ngồi ở quán C1
thuộc xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận thì gặp một người thanh niên tên T1 (không
rõ lai lịch). Sau đó, L nhờ T1 hỏi mua giùm 600.000₫ ma túy, T1 gọi điện thoại với
một người không rõ lai lịch rồi nói L đến nghĩa địa gần quán cà phê Bảo A để giao
dịch. Sau đó, L đến địa điểm do T1 chỉ dẫn gặp người thanh niên (không rõ lai
lịch) đưa 600.000đ và nhận 02 gói ma túy, cất vào trong túi quần trở lại quán cà
phê Bảo A. Khoảng 23 giờ 30 phút, L nhờ T chở giúp đi đến xã B, huyện X; do T
không quen đường nên L điều khển xe chở T; sau đó bị Công an kiểm tra và L tự
lấy 02 gói ma túy từ túi quần ra giao nộp.
Tại bản kết luận giám định số 504/KL-KTHS-MT ngày 27/9/2024 của Phòng K1, Công an tỉnh B kết luận: Mẫu kết tinh không màu-trong suốt chứa trong 02 gói nylon có khối lượng 1,5979 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.
-
Ông Nguyễn Văn C trình bày: Ông C với Nguyễn Phương T là bạn bè với
nhau từ nhỏ do gần nhà nhau. Ông C không quen biết gì với bị cáo Nguyễn Văn L.
Khoảng 18 giờ ngày 23/9/2024 ông T hỏi mượn xe mô tô, hiệu Yamaha exciter, màu đen, biển số: 86B6-590.83 của ông C đi lấy đồ, lấy xong sẽ trả lại và được ông C đồng ý. Sau đó bị cáo L nhờ ông T dùng xe mô tô của ông C chở ông L đi tới xã B, huyện X thì bị công an kiểm tra và thu giữ ma túy trong người ông L. Ông C đề nghị HĐXX giao trả xe mô tô nêu trên cho ông C.
-
Ông Nguyễn Phương T trình bày: Ông T với bị cáo Nguyễn Văn L là bạn bè
quen biết ngoài xã hội. Ông T với ông Nguyễn Văn C là bạn bè từ nhỏ do nhà ở gần
nhau.
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 25/9/2024 ông T điều khiển xe mô tô, hiệu Yamaha exciter, màu đen, biển số: 86B6-590.83 mượn của ông Nguyễn Văn C đến quán C1 xã T, huyện H để gặp bạn gái tên K. Đến quán bị cáo L rủ vào uống nước cùng nhưng ông T không ngồi cùng.
Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày khi ông T lấy xe chở bạn gái về thì được bị cáo L nhờ chở đi chơi ở xã B, huyện X nên ông T nói bị cáo chờ. Do ngày 25/9/2024 xe ông T bị hư có nhờ bị cáo đẩy đến chỗ sửa nên sau khi chở bạn gái về thì ông T quay lại chở bị cáo để giúp lại. Do không quen đường đi nên ông T để bị cáo cầm lái; khi đến ấp P, xã H, huyện X thì bị Công an kiểm tra và thu giữ 02 gói ma túy do bị cáo L lấy trong túi quần ra tự giao nộp. Ông T không biết bị cáo cất giấu ma túy trong người.
Khi làm việc tại Công an xã ông T bị thu giữ 01 điện thoại Iphone X, màu bạc, dung lượng 64GB, số Imei 35302009084510 (đã qua sử dụng), không có sim số, nhưng chưa được nhận lại. Trong thời gian HĐXX tạm ngừng phiên tòa ông T đã được Điều tra viên giao trả điện thoại nên không có yêu cầu gì khác.
-
Vật chứng chuyển cơ quan thi hành án chờ xử lý, gồm:
- 01 phong bì màu trắng được niêm phong số vụ 504 ngày 27/9/2024 có hình dấu Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh B cùng các chữ ký ghi họ tên: Trung tá Nguyễn D, Võ Thị Thanh H1, bên trong không còn mẫu vật do đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
- 01 xe mô tô, hiệu Yamaha exciter, màu đen, biển số: 86B6-590.83, số máy: G3D4E1000073, số khung: RLCUG1010KY229041 do Công an thị xã L cấp cho Nguyễn Văn C ngày 20/11/2023.
- 01 điện thoại iphone 5s, màu đen xám, dung lượng 16gb, số imei: 352007066359885, bên trong sim số: 0344590827.
Cáo trạng số 18/CT-VKSXM ngày 15/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã truy tố Nguyễn Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
-
Tại phiên tòa sơ thẩm: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (viết tắt là
VKSND) huyện X sau khi luận tội đã đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX):
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự (viết tắt là BLHS);
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 24 (Hai mươi bốn) đến 30 (Ba mươi) tháng tù. Miễn phạt bổ sung cho bị cáo;
- Căn cứ Điều 46 và 47 BLHS; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự (viết tắt là BLTTHS);
- Tịch thu tiêu hủy phong bì đựng mẫu vật sau giám định và 01 sim số: 0344590827.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại iphone 5s, màu đen xám, dung lượng 16gb, số imei: 352007066359885.
- Giao trả cho Nguyễn Văn C 01 xe mô tô, hiệu Yamaha exciter, màu đen, biển số: 86B6-590.83, số máy: G3D4E1000073, số khung: RLCUG1010KY229041 do Công an thị xã L cấp ngày 20/11/2023.
- Bị cáo L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng VKSND huyện Xuyên Mộc truy tố; trong lời nói sau cùng bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào những chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ của vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
-
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ
thẩm bị cáo L đã thừa nhận hành vi phạm tội tàng trữ trái phép 1,5979 gam chất
ma túy, loại Methamphetamine của mình phù hợp với biên bản bắt người phạm
tội quả tang, kết luận giám định và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên Cáo
trạng số 18/CT-VKSXM ngày 15/01/2025 của VKSND huyện Xuyên Mộc đã truy
tố bị cáo về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” phù hợp với quy định pháp
luật.
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước. Đối chiếu với các điều luật tương ứng do BLHS quy định, HĐXX thấy có đủ cơ sở pháp lý để xác định hành vi của Nguyễn Văn L đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS.
- Về tính chất, mức độ hành vi của bị cáo: Bị cáo thừa nhận biết tác hại của ma túy, nhưng để thỏa mãn ham muốn cá nhân, bị cáo vẫn lén lút tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Hành vi này của bị cáo thể hiện sự coi thường bản thân, thiếu trách nhiệm với gia đình, coi thường pháp luật, thách thức cơ quan quản lý chất gây nghiện; vì vậy HĐXX cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm tạo điều kiện cho bị cáo được giáo dục, học tập và phấn đấu để trở thành người tốt hơn, biết tôn trọng pháp luật đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa chung.
-
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Qúa trình điều tra, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo; đồng thời ngay sau khi bị phát hiện bị cáo đã tự nguyện đăng ký cai nghiện tự nguyện, cho thấy bị cáo ý thức được tác hại và mong muốn từ bỏ ma túy. Do đó HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo khi quyết định hình phạt.
-
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 phong bì màu trắng được niêm phong số vụ 504 ngày 27/9/2024 có hình dấu Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh B cùng các chữ ký ghi họ tên: Trung tá Nguyễn D, Võ Thị Thanh H1, bên trong không còn mẫu vật do đã sử dụng hết trong quá trình giám định nên HĐXX quyết định tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với 01 xe mô tô, hiệu Yamaha exciter, màu đen, biển số: 86B6- 590.83, số máy: G3D4E1000073, số khung: RLCUG1010KY229041 do Công an thị xã L, tỉnh Bình Thuận cấp chứng nhận đăng ký xe mô tô số 86 009172 ngày 20/11/2023 cho Nguyễn Văn C; do ông C cho ông Nguyễn Phương T mượn, sau đó bị cáo nhờ ông T chở đi gặp người quen; ông C và ông T không biết bị cáo mua và tàng trữ ma túy trong người. Vì vậy HĐXX giao trả lại xe này cho ông C.
-
Đối với 01 điện thoại Iphone 5s, màu đen xám, dung lượng 16GB, số
Imei: 352007066359885, bên trong có sim số: 0344590827 thu giữ của bị cáo L.
Biên bản kiểm tra dữ liệu trong điện thoại này (BL 16) thể hiện: Lịch sử cuộc gọi và mục tin nhắn không phát hiện gì liên quan đến ma túy, hình sự. Bị cáo khai mua ma túy của đối tượng bán lần đầu, do người tên T1 điện thoại hỏi mua dùm, sau đó bị cáo ra địa điểm do T1 hướng dẫn chờ 10 phút thì nhận ma túy và trả tiền. Việc bị cáo khai như trên là chưa phù hợp với quy luật của người giao dịch lần đầu, bị cáo không chứng minh được chỉ liên lạc bằng điện thoại của người tên T1 như bị cáo khai và Cơ quan CSĐT chưa có văn bản truy xuất cuộc gọi đi, đến từ nhà mạng mà bị cáo sử dụng dịch vụ; giả sử bị cáo ra điểm hẹn, sau đó hai bên chỉ nhá máy (gọi mà không ghe) để nhận diện nhau, giao dịch xong thì xóa lịch sử cuộc gọi thì có truy xuất được không; chưa kể bị cáo và T đều nghiện, mang ma túy đi gặp bạn nào, để làm gì vào thời điểm 00 giờ 20 phút khi chưa đến nhà đối tượng muốn gặp lần nào nếu không điện thoại hẹn trước. Do đó HĐXX có cơ sở tin rằng điện thoại này là công cụ, phương tiện bị cáo dùng vào việc liên lạc mua ma túy nên quyết định tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước. Riêng sim số 0344590827 nêu trên không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
-
Biên bản mở niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ (BL 20) thể hiện 16
giờ 30 phút ngày 26/9/2024 Điều tra viên, Kiểm sát viên, Cán bộ điều tra và ông
Nguyễn Phương T tiến hành mở niêm phong đối với 01 điện thoại Iphone X, màu
bạc, dung lượng 64GB, số Imei 35302009084510 (đã qua sử dụng) thu giữ của
ông T. Sau khi mở niêm phong, điện thoại này được giao cho Điều tra viên để
kiểm tra dữ liệu điện tử. Tuy nhiên biên bản vụ việc (BL 13) thể hiện có thu giữ
điện thoại này, nhưng biên bản bàn giao hồ sơ vụ việc (BL 14) không thể hiện hồ
sơ gồm bao nhiêu tập, bao nhiêu bút lục, không có danh mục tài liệu bàn giao cụ
thể. Hồ sơ vụ án thể hiện không có quyết định tạm giữ hoặc biên bản, quyết định
giao trả tài sản, đồ vật, tài liệu là điện thoại nêu trên; đồng thời Kết luận điều tra
và Cáo trạng đều không đề cập, không có quyết định tạm giữ, quyết định chuyển
vật chứng, không đề nghị Tòa án xem xét quyết định là không đảm bảo quyền lợi
chính đáng của ông T, vi phạm quy định Điều 106 BLTTHS.
Tuy nhiên ông T và điện thoại Iphone X này không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo; ông T xác định trong thời gian HĐXX tạm ngừng phiên tòa, ông T đã được giao trả lại điện thoại này, do đó HĐXX không xem xét, quyết định.
-
Về các vấn đề khác:
-
00 giờ 20 phút ngày 26/9/2024, sau khi bị cáo L giao nộp 02 gói nylon
tự khai là ma túy, Công an đã tiến hành lập biên bản vụ việc và đưa bị cáo cùng
người đi cùng về trụ sở Công an làm việc, đồng thời xét nghiệm chất ma túy bằng
thử test thể hiện bị cáo dương tính với ma túy Methamphetamine. Cùng ngày
26/9/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện X đã quyết định trưng cầu giám định;
15 giờ 30 phút ngày 27/9/2024 cơ quan giám định đã giao Kết luận giám định
cùng đối tượng giám định cho Cơ quan yêu cầu (BL 28). Tuy nhiên việc không
tiến hành tạm giữ ngay đối với bị cáo mà để Chủ tịch UBND xã quyết định cho bị
cáo đi cai nghiện tự nguyện từ ngày 27/9/2024 đến ngày 27/3/2025 (BL 80) là vi
phạm quy định Điều 117 và 118 BLTTHS, đến ngày 24/10/2024 mới giao thông
báo kết luận giám định cho bị cáo là vi phạm khoản 2 Điều 214 BLTTHS.
Ngày 02/10/2024 được phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và phê chuẩn lệnh bắt bị can để tạm giam; tuy nhiên ngày 10/10/2024 Cơ quan CSĐT mới gửi văn bản đề nghị chấm dứt hợp đồng cai nghiện tự nguyện đối với bị cáo nhưng gửi cho Cơ sở cai nghiện tỉnh B (BL 75) là chưa đúng với tên tổ chức bị cáo đang cai nghiện, cũng như Thông báo số 02/TB-CSCNMT ngày 03/01/2024 của Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; đến ngày 24/10/2024 mới bắt bị cáo để tạm giam là chưa quyết liệt trong đấu tranh xử lý đối với tội phạm này.
Biên bản bắt bị can để tạm giam (BL 12) tại nơi bị cáo cai nghiện tự nguyện, tức nơi bị cáo chữa bệnh nhưng không có đại diện chính quyền xã chứng kiến là chưa phù hợp quy định khoản 2 Điều 113 BLTTHS.
- Đối với ông Phạm Đình Đ là người chứng kiến cơ quan có thẩm quyền lập biên bản bắt quả tang đối với bị cáo; tuy nhiên ông Đ đã có lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo trong hồ sơ vụ án nên không triệu tập ông Đ tham gia phiên tòa.
- Đối với đối tượng tên T1 (không rõ lai lịch) và đối tượng (không rõ lai lịch) là người bán ma túy cho bị cáo nhưng không rõ nhân thân, lý lịch, cơ quan CSĐT Công an huyện X xác minh và xử lý sau nên HĐXX không xem xét, quyết định.
- 01 xe mô tô biển số: 86B6-590.83 của ông C và Iphone X của ông T bị thu giữ đều chưa được trả lại cho chủ sở hữu; trong đó xe mô tô ông T mượn của ông C giao cho bị cáo L điều khiển tại thời điểm bị phát hiện tàng trữ trái phép chất ma túy. Tuy nhiên Cơ quan CSĐT và VKS xác định và đề nghị triệu tập ông T với tư cách người làm chứng là chưa phù hợp với quy định Điều 66 BLTTHS. Do đó HĐXX xác định ông Nguyễn Phương T là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
-
00 giờ 20 phút ngày 26/9/2024, sau khi bị cáo L giao nộp 02 gói nylon
tự khai là ma túy, Công an đã tiến hành lập biên bản vụ việc và đưa bị cáo cùng
người đi cùng về trụ sở Công an làm việc, đồng thời xét nghiệm chất ma túy bằng
thử test thể hiện bị cáo dương tính với ma túy Methamphetamine. Cùng ngày
26/9/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện X đã quyết định trưng cầu giám định;
15 giờ 30 phút ngày 27/9/2024 cơ quan giám định đã giao Kết luận giám định
cùng đối tượng giám định cho Cơ quan yêu cầu (BL 28). Tuy nhiên việc không
tiến hành tạm giữ ngay đối với bị cáo mà để Chủ tịch UBND xã quyết định cho bị
cáo đi cai nghiện tự nguyện từ ngày 27/9/2024 đến ngày 27/3/2025 (BL 80) là vi
phạm quy định Điều 117 và 118 BLTTHS, đến ngày 24/10/2024 mới giao thông
báo kết luận giám định cho bị cáo là vi phạm khoản 2 Điều 214 BLTTHS.
- Về hành vi, quyết định của cơ quan và người tiến hành tố tụng: Tuy quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo L và người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, đồng thời khẳng định không bị đánh đập hay ép khai trái với ý chí của mình. Đối chiếu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện X và Kiểm sát viên, VKSND huyện Xuyên Mộc trong quá trình điều tra, truy tố còn nhiều vi phạm về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS.
- Về đề nghị của Kiểm sát viên: Xét về điều luật, tội danh, hình phạt, xử lý vật chứng cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng mà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng là có căn cứ, phù hợp hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo; đủ tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung nên HĐXX chấp nhận.
- Về án phí: Bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo và VKSND được quyền kháng cáo, kháng nghị theo quy định BLTTHS.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 32; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/10/2024.
-
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46 và Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì màu trắng được niêm phong số vụ 504 ngày 27/9/2024 theo mục [4.1] phần Nhận định của Tòa án.
- Tịch thu, tiêu hủy sim số 0344590827 theo mục [4.3] phần nhận định của Tòa án.
- Tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại Iphone 5s theo mục [4.3] phần Nhận định của Tòa án.
- Giao trả cho ông Nguyễn Văn C 01 xe mô tô theo mục [4.2] phần Nhận định của Tòa án.
(Hiện tất cả vật chứng nêu trên được Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng số 48/BB ngày 22/01/2025)
-
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;
Buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Căn cứ các Điều: 331, 333, 336 và Điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự;
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo, VKSND cùng cấp có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 15 ngày; VKSND cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày tuyên án (ngày 25-02-2025).
-
Về quyền yêu cầu thi hành án: Áp dụng Điều 26 Luật thi hành án dân sự 2008;
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Đạt |
Bản án số 16/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 16/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/10/2024
