TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 16/2025/HS-ST Ngày 19 tháng 02 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Lan.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Nam và ông Nguyễn Văn Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Quốc Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Toản và bà Nguyễn Thị H - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:
1. Lương Văn T, sinh ngày 01/01/1999 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số C, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 1/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Đ (chết) và bà Lương Thị B; bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án: Ngày 05 tháng 01 năm 2021 bị Toà án nhân dân thành phố Long Xuyên xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 21 tháng 7 năm 2021 chấp hành xong hình phạt tù.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16 tháng 10 năm 2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L. (Có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo Lương Văn T: Ông Trần Phước T1, Trợ giúp viên pháp lý tại Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh A. (Có mặt)
Địa chỉ: Số H L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
2. Nguyễn Trung T2, sinh ngày 28/02/1991 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số H, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn H1 và bà Lương Thị T3; bị cáo sống chung như vợ chồng với Nguyễn Thị Tuyết N và có 01 con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17 tháng 10 năm 2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L. (có mặt)
- Bị hại: Nguyễn Trí T4, sinh năm 1997, (Có mặt)
Cư trú: Số G, khóm M, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Bùi Văn X, sinh năm 1945, (Có mặt)
- Cư trú: Số E, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
- + Bà Trần Thị Kim T5, sinh năm 1978, (Vắng mặt)
- Cư trú: Số B, khóm M, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 10 tháng 4 năm 2022, Nguyễn Trí T4 đến nhà Đặng Hoàng X1 uống bia cùng với X1, Nguyễn Trung T2, Lương Văn T và T6 (chưa rõ họ, địa chỉ). Trong lúc uống bia, T4 lớn tiếng, chửi thề dẫn đến cự cãi đánh nhau bằng tay với T2 và X1 thì được can ngăn. Sau đó, T4 đi về nhà, còn lại T2, T, X1, T6 tiếp tục uống bia. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, T2 bảo những người này đến quán K trên đường T, khóm M, phường M, thành phố L uống bia. Lúc này, T nói rủ T4 ra quán K giải hòa và nói với T2, X1, T6 mang theo hung khí phòng thân, nếu bị T4 đánh thì đánh lại nhưng T2, X1, T6 không trả lời và cùng đi đến quán K. Riêng T về nhà tại khóm Đ, phường M, thành phố L lấy 02 con dao cán bằng ống sắt tròn, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng, dài khoảng 50cm mang đến quán K để dưới bàn mà T2, X1, T6 đang ngồi. Đến đây, T điện thoại cho T4 bảo đến quán K để nói chuyện. Khoảng 30 phút sau, T4 đến quán K không nói gì mà lấy vỏ chai bia trên bàn đánh vào đầu của T2 rồi bỏ chạy. Cùng lúc, T và T2 mỗi người lấy 01 con dao để dưới bàn đuổi theo chém T4. T khai chém trúng khuỷu tay trái của T4 01 nhát, T2 khai chém trúng gót chân phải của T4 01 nhát rồi cả hai dừng lại. T, T2 khai thấy X1 cầm dao đứng gần T4 nhưng không biết X1 lấy dao ở đâu và X1 có chém T4 hay không, còn T6 đứng bên ngoài. Sau đó, T4 được gia đình đưa đến Bệnh viện Đ1 điều trị, đến ngày 18 tháng 4 năm 2022 ra viện.
Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 48/24/KLTTCT-TTPY ngày 30 tháng 01 năm 2024, Trung tâm Pháp y tỉnh A kết luận đối với Nguyễn Trí T4 như sau:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- - Sẹo hông lưng phải, đường nách sau, kích thước (5.5 x 0.6) cm, hình vòng cung, bờ sắc gọn, màu hồng, sẹo lồi. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 03%.
- - Sẹo mặt sau khuỷu tay trái, kích thước (05 x 0.8), hướng hơi xiên, hai góc nhọn, màu hồng, sẹo lồi:
- + Đứt cơ khuỷu tay trái, đã khâu cơ đứt.
- + Mẻ lồi cầu ngoài xương cánh tay trái, không ảnh hưởng đến khớp.
- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 07%.
- - Sẹo mặt sau cổ chân đến gót chân phải, kích thước (11 x 0.3) cm, hình vòng cung, dạng vát da: Đứt gân gót chân Achile, đã phẩu thuật khâu gân. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 15%.
2. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả các thương tích gây nên là 23%. Thương tích trên do vật sắc gây nên.
Quá trình điều tra bị cáo Lương Văn T và bị cáo Nguyễn Trung T2 khai nhận đã dùng dao gây thương tích cho Nguyễn Trí T4 như nội dung vụ án. Bị cáo T2 bị Nguyễn Trí T4 dùng vỏ chai bia đánh gây thương tích nhẹ, bị cáo T2 không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.
Bị hại Nguyễn Trí T4 khai do bỏ chạy nên T4 không xác định được bị những người nào chém. T4 yêu cầu bồi thường chi phí điều trị, mất thu nhập, tổn thất tinh thần 74.080.000 đồng. T4 đã nhận 4.000.000 đồng do Bùi Văn X (ông ngoại của X1) bồi thường.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên Bùi Văn X khai là ông ngoại của Đặng Hoàng X1, ông có nghe nói lại nhưng không nhớ là ai việc X1 tham gia cùng người khác đánh nhau với Nguyễn Trí T4 nhưng có gây thương tích cho T4 hay không thì ông không rõ. Ông đã bồi thường cho T4 số tiền 4.000.000đ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị Kim T5 khai là chủ quán nhậu Kim T5, không chứng kiến việc gây thương tích giữa các bị cáo và bị hại. Bà T5 không yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với số ly và vỏ chai bia bị bể.
Tại Cáo trạng số 26/CT-VKSLX ngày 06 tháng 01 năm 2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đã truy tố bị cáo Lương Văn T và bị cáo Nguyễn Trung T2 về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà:
- Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của người phạm tội và đề nghị:
+ Về trách nhiệm hình sự:
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lương Văn T từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T2 từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
+ Về trách nhiệm dân sự:
Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 590 Bộ luật Dân sự: công nhận sự thỏa thuận giữa các bên: bị cáo Lương Văn T bồi thường cho bị hại số tiền 12.500.000đ, bị cáo Nguyễn Trung T2 bồi thường cho bị hại số tiền 12.500.000đ.
+ Về xử lý vật chứng: Không.
- Bị cáo Lương Văn T và bị cáo Nguyễn Trung T2 khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố, không tranh luận với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại Nguyễn Trí T4 số tiền 25.000.000đ (trong đó: bị cáo T đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 12.500.000đ, bị cáo T2 đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 12.500.000đ), các bị cáo nói lời sau cùng đã ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
- Người bào chữa cho bị cáo Lương Văn T trình bày: Thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh và khung hình phạt. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt thấp nhất trong khung theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
- Bị hại Nguyễn Trí T4 yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 25.000.000₫, trong đó bị cáo T phải bồi thường số tiền 12.500.000đ, bị cáo T2 phải bồi thường số tiền 12.500.000đ. Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bùi Văn X, trình bày: Vào ngày 21 tháng 01 năm 2025, ông X có bồi thường thêm cho bị hại Nguyễn Trí T4 số tiền 5.000.000đ, tổng cộng ông X đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 9.000.000đ. Ông X sẽ tiếp tục bồi thường thêm cho bị hại số tiền 5.000.000đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến và khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị Kim T5 vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ vào Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Lương Văn T và bị cáo Nguyễn Trung T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 10 tháng 4 năm 2022, tại quán K trên đường T, khóm M, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, bị cáo Lương Văn T và bị cáo Nguyễn Trung T2 đã có hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm chém bị hại Nguyễn Trí T4 gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 23%.
Hành vi nêu trên của bị cáo Lương Văn T và bị cáo Nguyễn Trung T2 có đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 06 năm (tội phạm nghiêm trọng).
Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên truy tố bị cáo là có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm:
Bị cáo Lương Văn T và bị cáo Nguyễn Trung T2 là người đã thành niên, có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, biết rõ việc dùng dao chém bị hại là nguy hiểm đến sức khoẻ của bị hại nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo T và bị cáo T2 là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến sức khỏe, tinh thần của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý hoang mang lo sợ trong nhân dân, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn mới tương xứng với mức độ phạm tội mà các bị cáo đã gây ra để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Mức hình phạt tù có thời hạn mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Bị cáo Lương Văn T là người đã điện thoại hẹn gặp bị hại T4 tại quán K, là người kêu những người còn lại gồm bị cáo Nguyễn Trung T2, Đặng Hoàng X1 và T6 mang theo hung khí khi đến quán K để gặp bị hại T4 và cũng là người chém bị hại T4 nên phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm là người người xúi giục, là người thực hành. Bị cáo Nguyễn Trung T2 là người chém bị hại T4 nên phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm là người thực hành. Bị cáo Lương Văn T là người có nhân thân xấu, bị 01 bản án của Toà án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xoá án tích nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội đã thể hiện thái độ xem thường pháp luật. Xét thấy, cần áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo T nặng hơn bị cáo T2.
Đối với:
Đặng Hoàng X1 không rõ đang ở đâu, T6 không rõ nhân thân, nên cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã ra quyết định tách vụ án. Nay Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có căn cứ yêu cầu xử lý theo đúng quy định của pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Trung T2 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo Lương Văn T bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lương Văn T và bị cáo Nguyễn Trung T2 được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với các bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà bị cáo Lương Văn T đồng ý bồi thường số tiền 12.500.000đ và bị cáo Nguyễn Trung T2 đồng ý bồi thường số tiền 12.500.000đ theo yêu cầu của bị hại Nguyễn Trí T4. Xét thấy, sự tự nguyện của các bị cáo phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về xử lý vật chứng: Không có.
[7] Về án phí sơ thẩm:
[7.1] Bị cáo Lương Văn T thuộc hộ cận nghèo thuộc trường hợp được miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
[7.2] Bị cáo Nguyễn Trung T2 phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 625.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lương Văn T và bị cáo Nguyễn Trung T2 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
1. Về hình phạt:
1.1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lương Văn T 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 16/10/2024).
1.2. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T2 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 17/10/2024).
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 587 và Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại về việc bị cáo Lương Văn T bồi thường thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm cho bị hại Nguyễn Trí T4 số tiền 12.500.000đ, bị cáo Nguyễn Trung T2 bồi thường thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm cho bị hại Nguyễn Trí T4 số tiền 12.500.000đ.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Lương Văn T không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Trung T2 phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 625.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bùi Văn X được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị Kim T5 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Lan |
Bản án số 16/2025/HS-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 16/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lương Văn Tài, Nguyễn Trung Tín phạm tội cố ý gây thương tích
