Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM NÔNG

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2025/HS-ST

Ngày 16 tháng 02 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phùng Thị Kim Nguyên.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Nguyễn Chí Thanh.
  • 2. Ông: Nguyễn Khắc Long.

Thư ký phiên toà: Ông Trần Minh Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 06/02/2025, tại trụ Toà án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 16/2025/TLST- HS ngày 24 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 2 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Chu Quốc C; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;

Sinh ngày: 09/8/1989 tại huyện T, tỉnh Phú Thọ;

Nơi cư trú: khu A, xã D, huyện T, tỉnh Phú Thọ;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Chu Quốc K, sinh năm 1956 (đã chết); Mẹ đẻ: Phan Thị H, sinh năm 1956; Vợ: Nông Thị D, sinh năm 1989 (đã ly hôn); Con: 01 con (13 tuổi).

Tiền án:

  • - Bản án số 60/2013/HS-ST ngày 24/12/2013 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thi hành xong hình phạt tù ngày 24/9/2015.
  • - Bản án số 50/2017/HS-ST ngày 29/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thi hành xong hình phạt tù ngày 15/8/2018.
  • - Bản án số 25/2019/HS-ST ngày 11/7/2019 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Bản án số 41/2019/HS-ST ngày 30/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm”), tổng hợp hình phạt với bản án số 25/2019/HS-ST ngày 11/7/2019, hình phạt chung là 05 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thi hành xong hình phạt tù ngày 03/8/2024 và chưa được xóa án tích.

Tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P. (Có mặt)

  • - Người bào chữa cho bị cáo Chu Quốc C:
  • Bà Đinh Thị H1, sinh năm 1979.
  • Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Phú Thọ.
  • Địa chỉ: Phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt)
  • · Người bị hại:
  • Ông: Phan Quang H2 - sinh năm 1965
  • Địa chỉ: Khu A, xã D, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt)
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
  • Bà: Phan Thị H - sinh năm 1956.
  • Địa chỉ: Khu A, xã D, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 14/12/2024, Chu Quốc C, sinh năm 1989, hộ khẩu thường trú: khu A, xã D, huyện T, tỉnh Phú Thọ, đi một mình từ thị xã S, thành phố Hà Nội về nhà tại khu A, xã D, huyện T, tỉnh Phú Thọ và đi ngủ. Đến khoảng 01 giờ 00 phút ngày 15/12/2024, C dậy lấy chiếc xe đạp màu hồng để trong nhà của bà Phan Thị H, sinh năm 1956 (là mẹ C), đạp xe đi từ nhà C đến Nhà văn hóa khu A, xã D, huyện T, tỉnh Phú Thọ nhằm mục đích tìm kiếm tài sản để trộm cắp bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Khi đến nơi, C thấy cửa Nhà văn H3 khóa bên ngoài nên C dựng xe đạp ngoài sân rồi đi bộ xung quanh Nhà văn hóa tìm đồ vật phá khóa cửa thì tìm thấy 01 chiếc xà cầy bằng kim loại hình trụ, dài 90 cm, đường kính 02 cm, một đầu dẹt, một đầu uốn cong dài 09 cm để trên sân. C dùng chiếc xà cầy trên cạy phá chốt then cài cửa Nhà văn H3 rồi đi vào bên trong, khép cửa lại. Do trời tối nên C dùng 01 chiếc bật lửa ga có sẵn trong người để soi đường đi. Vào trong Nhà văn hóa C nhìn thấy và tháo các dây điện ra khỏi 01 máy ổn áp tự động xoay chiều 01 pha nhãn hiệu STANDA màu xanh, Model ST-3000DR có công suất 3000 VA, số máy BC3 000327 và 02 bộ thu truyền thanh không dây kỹ thuật số có điều khiển, nhãn hiệu AMZ, Model DFR50W rồi bê ra ngoài sân để lên giá đèo hàng phía sau của xe đạp. C khép cửa Nhà văn H3 rồi đạp xe chở theo 01 máy ổn áp tự động, 02 bộ thu truyền thanh và 01 chiếc xà cầy trên đi về nhà. Khi về đến nhà, C để 01 máy ổn áp tự động, 01 chiếc xà cầy cùng chiếc xe đạp trong bếp còn 02 bộ thu truyền thanh để trong gầm giường phòng ngủ của mình. Chiếc bật lửa ga C sử dụng để soi bên trong Nhà văn hóa bị rơi mất trong quá trình C di chuyển. Bộ quần áo C mặc trên người khi thực hiện hành vi trộm cắp, do lo sợ bị phát hiện nên C đã cởi ra và vứt xuống sông Đ ở gần nhà.

Đến khoảng 08 giờ 00 phút ngày 15/12/2024, ông Phan Quang H2, sinh năm 1965 là Trưởng khu dân cư số 14, xã D, huyện T, tỉnh Phú Thọ đến làm việc thì phát hiện tại Nhà văn hóa khu A, xã D, huyện T, tỉnh Phú Thọ bị cạy phá cửa và mất các tài sản gồm: 01 máy ổn áp tự động, 02 bộ thu truyền thanh và 01 chiếc xà cầy như trên. Các tài sản này là của Nhà văn hóa khu A, xã D, huyện T, tỉnh Phú Thọ giao cho ông H2 quản lý để phục vụ nhân dân, vì vậy ông H2 đã trình báo đến Công an xã D và Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ. Quá trình xác minh, Cơ quan điều tra Công an huyện T đã triệu tập lấy lời khai người liên quan, đấu tranh làm rõ được đối tượng trộm cắp tài sản là Chu Quốc C, sinh năm 1989, hộ khẩu thường trú: khu A, xã D, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành khám xét khẩn cấp tại nhà C thu giữ: 01 máy ổn áp tự động, 02 bộ thu truyền thanh, 01 chiếc xà cầy và 01 xe đạp màu hồng như trên. Tại Cơ quan điều tra, Chu Quốc C khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 15/12/2024 tại Nhà văn hóa khu A, xã D, huyện T, tỉnh Phú Thọ như nêu trên. Lời khai của C phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ cơ quan điều tra thu thập được.

Cơ quan điều tra Công an huyện T đã Yêu cầu định giá tài sản đối với tài sản trộm cắp nêu trên, tại bản kết luận định giá tài sản số 25/KL-ĐGTS ngày 23/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: “Tổng trị giá của số tài sản tại thời điểm định giá ngày 15/12/2024 là 3.820.000 đồng.”

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra xác định chiếc xe đạp C sử dụng đi trộm cắp tài sản là của bà Phan Thị H (mẹ C), ngày 15/12/2024 C tự ý lấy xe đi và thực hiện hành vi trộm cắp tài sản bà H không biết. nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với bà H. Các tài sản C trộm cắp của N1 số A, xã D, huyện T, tỉnh Phú Thọ do ông Phan Quang H2 là Trưởng khu quản lý. Cơ quan điều tra Công an huyện T đã trả lại tài sản gồm: 01 máy ổn áp tự động, 02 bộ thu truyền thanh, 01 chiếc xà cầy cho ông Phan Quang H2 và trả lại 01 chiếc xe đạp cho bà Phan Thị H là chủ tài sản theo quy định, các chủ sở hữu đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì thêm.

Tại bản cáo trạng số 05/CT-VKSTN ngày 23/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông truy tố bị cáo Chu Quốc C ra trước Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g, khoản 2, Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố như cáo trạng Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố như cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Chu Quốc C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm g, khoản 2, Điều 173; điểm s, khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt đối với Chu Quốc C từ 36 tháng đến 42 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2024.

- Hình phạt bổ sung: không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xác nhận các biên bản trả lại vật chứng, tài sản lưu trong hồ sơ là hợp pháp.

Về án phí: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo và có đề nghị nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo mức thấp nhất của đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối lỗi nên không tranh luận gì thêm, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên của bị cáo và người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định và hợp pháp.

[2] Về những chứng cứ xác định bị cáo Chu Quốc C có tội: Xét lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai người liên quan, người bị hại, phù hợp với biên bản làm việc của cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 15/12/2024, tại Nhà văn hóa khu A, xã D, huyện T, tỉnh Phú Thọ, Chu Quốc C đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản gồm: 01 máy ổn áp tự động, 02 bộ thu truyền thanh, 01 chiếc xà cầy có tổng trị giá là 3.820.000 đồng của N1 số 14, xã D, huyện T, tỉnh Phú Thọ do ông Phan Quang H2 là Trưởng khu quản lý, sau đó bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T phát hiện, làm rõ và thu giữ.

Chu Quốc C đã có 04 tiền án đến nay đều chưa được xóa án tích. Do vậy, hành vi phạm tội lần này của C phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tình tiết định khung là “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g, khoản 2, Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của Chu Quốc C đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Đây là hành vi nguy hiểm cho xã hội cần phải được xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g, khoản 2, Điều 173 Bộ luật hình sự.

Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

g) Tái phạm nguy hiểm.”

[3] Xét thấy tính chất vụ án là thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, hành vi của bị cáo còn gây mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn. Vì vậy đưa bị cáo ra xét xử và có hình phạt nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cần xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như sau: Bị cáo Chu Quốc C đã có 04 tiền án đến nay đều chưa được xóa án tích. Nên lần phạm tội này của bị cáo bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tình tiết định khung là “Tái phạm nguy hiểm”. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, có thể xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo cũng đủ điều kiện dăn đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 điều 173 Bộ luật Hình sự có quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng”. Xét thấy qua xác minh của cơ quan điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa bị cáo hiện đang sinh sống cùng gia đình, không có tài sản riêng có giá trị, không có công việc ổn định nên không xác định được thu nhập. Do đó không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

[5] Về xử lý vật chứng: Cần xác nhận cơ quan điều tra Công an huyện T đã trả lại vật chứng, tài sản cho các chủ sở hữu theo quy định là phù hợp.

[6] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề xuất về hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp nên chấp nhận.

[7] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo và có đề nghị nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo, Người bị hại, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

I. Căn cứ điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Chu Quốc C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm g, khoản 2, Điều 173; điểm s, khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt Chu Quốc C 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2024.

- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo.

II. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xác nhận các biên bản trả lại vật chứng, tài sản lưu trong hồ sơ là hợp pháp.

III. Về án phí: Áp dụng khoản 2, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Luật phí và lệ phí năm 2015; điểm đ - khoản 1 - Điều 12; Điều 14 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

IV. Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331, điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, người bị hại có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án giao cho họ hoặc niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ;
  • - Công an huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ;
  • - THAHS, DS huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ;
  • - UBND xã Dân Quyền, huyện Tam Nông;
  • - Sở tư pháp;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu: HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phùng Thị Kim Nguyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2025/HS-ST ngày 16/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 16/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chu Quốc Cường
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger