|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 16/2025/HS-ST Ngày: 15-4-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Quân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Đức Huy.
- Ông Trần Văn Nhị.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Nhàn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Trúc - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Mai Văn T, sinh năm 1988. Giới tính: Nam. Nơi sinh: Bình Thuận. Nơi thường trú: Thôn B, xã M, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 07/12. Nghề nghiệp: Không. Con ông Mai Văn Đ, sinh năm 1958 và bà Hồ Thị Y, sinh năm 1960. Bị cáo có vợ là Trần Thị H, sinh năm 1994 (đã ly hôn) và 01 người con sinh năm 2011.
Tiền án: Ngày 04/4/2023, Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An tuyên phạt 01 năm tù về tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong ngày 29/9/2023.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 18/8/2009, Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 03 năm tù về tội cướp tài sản.
Bị cáo bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T (nay là Phân trại tạm giam khu vực huyện T thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh L) từ ngày 02/12/2024 đến nay và có mặt tại phiên tòa.
1
Bị hại: Ông Nguyễn Vũ Lê D, sinh năm 1984; Địa chỉ: Ấp B, xã N, huyện T, tỉnh Long An. (Vắng mặt có đơn xin vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Thái D1, sinh năm 2001; Địa chỉ: 134/2 DT824 ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Long An. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Mai Văn T, sinh năm 1988, nơi thường trú: Thôn B, xã M, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận là đối tượng nghiện ma túy và có tiền án về tội trộm cắp tài sản. Vào khoảng 08 giờ ngày 29/11/2024, bị cáo T điều khiển xe mô tô biển số 86K7-0911 đi từ Quốc lộ A vào Đường T để ăn sáng. Khi đi ngang qua tiệm Đ1 thuộc ấp G, xã N, huyện T thì bị cáo T phát hiện xe mô tô biển số 62G1-024.66 của ông Nguyễn Vũ Lê D, sinh năm 1984, nơi thường trú: Ấp B, xã N, huyện T, tỉnh Long An đang đậu trước cửa tiệm, trên xe có chìa khóa và không có người trông coi. Do cần tiền tiêu xài nên nảy sinh ý định lấy trộm xe mô tô 62G1-024.66, bị cáo Trọng đậu xe mô tô 86K7-0911 cách tiệm Đ1 khoảng 20m và đi bộ đến vị trí xe mô tô 62G1-024.66 đang đậu, bị cáo T mở chìa khóa và điều khiển xe mô tô 62G1-024.66 chạy về hướng huyện B và gửi xe mô tô vừa trộm được tại Trung tâm Y tế huyện B. Sau đó, bị cáo T thuê xe ôm chở về nơi để xe 86K7-0911 để lấy xe. Đến khoảng 10 giờ ngày 30/11/2024, bị cáo T điều khiển xe mô tô 86K7-0911 đến Trung tâm Y tế huyện B gửi tại đó và lấy xe mô tô 62G1-024.66 đem đến Tiệm cầm đồ Gia Bảo do ông Trần Thái D1 làm chủ thuộc ấp A, xã A, huyện B cầm với số tiền 4.000.000 đồng. Sau đó, bị cáo T điều khiển xe mô tô 86K7-0911 để về lại nhà trọ thuộc ấp G, xã N, huyện T. Đến ngày 02/12/2024, qua xác minh lực lượng Công an xã N mời bị cáo T về trụ sở để làm việc. Tại cơ quan công an, bị cáo Mai Văn T đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình.Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 1576/KL-HĐĐG, ngày 23/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T kết luận: Giá trị của 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ-đen-bạc, biển số 62G1-024.66 tại thời điểm ngày 29/11/2024 là 4.500.000 đồng.Tại bản cáo trạng số 16/CT-VKS ngày 10/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa đã truy tố bị cáo Mai Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Mai Văn T về tội “Trộm cắp tài sản”. Trong phần luận tội bà Kiểm sát viên đã phân tích đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng: Điều 38; Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Mai Văn T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Vũ Lê D đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu về dân sự nên không xem xét. Ông Trần Thái D1 không yêu cầu bị cáo T hoàn trả số tiền 4.000.000 đồng nên không xem xét.Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (một) xe mô
2
tô không rõ nhãn hiệu, màu đỏ, số khung: DH88XF310618, số máy: SM004646.Tịch tiêu hủy 01 (một) biển số xe 86K7-0911; 01 (một) áo thun ngắn tay màu đen, phía trước ngực áo có chữ DSQUARED2; 01 (một) quần short jean màu xanh; 01 (một) nón bảo hiểm màu cam đen dạng nữa đầu, có chữ NonViet; 01 (một) đôi dép kẹp màu đen (đã qua sử dụng). Tiếp tục lưu trữ tại hồ sơ vụ án 02 (hai) hợp đồng cầm đồ đề ngày 30/11/2024 của Tiệm Cầm đồ Gia B.Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát đã nêu, bị cáo không tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo biết hành vi của mình là sai trái nên xin giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về lo cho cha mẹ và con cái.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Tại phiên tòa các bị cáo không khiếu nại các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Hồ sơ vụ án thể hiện trong giai đoạn điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố vụ án thì hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên tiến hành đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Nguyễn Vũ Lê D vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt, riêng ông Trần Thái D1 vắng mặt không rõ lý do nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra đồng thời việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Tại phiên tòa, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời còn phù hợp với biên bản kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc, sơ đồ hiện trường và các tài liệu khác có trong hồ sơ nên có đủ cơ sở khẳng định: Ngày 29/11/2024, tại ấp G, xã N, huyện T, tỉnh Long An, bị cáo Mai Văn T đã thực hiện hành vi lén lút lấy trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, màu đỏ-đen-bạc, biển số 62G1-024.66 của ông Nguyễn Vũ Lê D có giá trị là 4.500.000 đồng.
[3] Bị cáo Mai Văn T là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ tài sản của người khác luôn được pháp luật bảo vệ, nhưng nhằm mục đích có tiền tiêu xài cá nhân mà không bỏ công sức lao động bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, mà còn gây mất an ninh, trật tự ở địa phương. Do đó, cần thiết phải xử lý bị cáo một hình phạt nghiêm khắc để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Ngoài ra, bị cáo T là người có nhân thân xấu, đã có tiền án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích nên khi quyết định hình phạt bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, tuy nhiên khi
3
lượng hình cũng cần xem xét tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Vũ Lê D đã nhận lại tài sản, ông D không yêu cầu gì thêm và ông Trần Thái D1 không yêu cầu bị cáo T bồi thường số tiền 4.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T có thu giữ:
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, màu đỏ-đen-bạc, biển số 62G1-024.66 và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 007708. Hiện đã trả lại cho ông Nguyễn Vũ Lê D là phù hợp.
- 02 (hai) hợp đồng cầm đồ đề ngày 30/11/2024 của Tiệm Cầm đồ Gia B là tài liệu mang dấu vết tội phạm, có giá trị chứng minh tội phạm, người phạm tội và có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án nên cần tiếp tục lưu trữ tại hồ sơ vụ án theo quy định tại Điều 104, Điều 105 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- 01 (một) xe mô tô không rõ nhãn hiệu, màu đỏ, số khung: DH88XF310618, số máy: SM004646 là công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
- 01 (một) biển số xe 86K7-0911; 01 (một) áo thun ngắn tay màu đen, phía trước ngực áo có chữ DSQUARED2; 01 (một) quần short jean màu xanh; 01 (một) nón bảo hiểm màu cam đen dạng nữa đầu, có chữ NonViet; 01 (một) đôi dép kẹp màu đen (đã qua sử dụng) là công cụ, phương tiện phạm tội và liên quan đến việc phạm tội nhưng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[6] Đối với ông Trần Thái D1 là chủ tiệm cầm đồ Gia B đã có hành vi cầm xe mô tô 62G1-024.66 do bị cáo Mai Văn T trộm cắp mà có. Tuy nhiên, ông D1 không biết đây là tài sản do người khác phạm tội mà có. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không xử lý hình sự đối với ông D1 là có căn cứ.
[7] Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa đã phản ánh đúng hành vi mà bị cáo T đã thực hiện, phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xác định cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa là có căn cứ, đúng pháp luật. Đề nghị của bà Kiểm sát viên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về án phí: Buộc bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo: Mai Văn T “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Mai Văn T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời gian tù tính từ ngày 02/12/2024.
4
Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Mai Văn T 45 ngày kể từ ngày tuyên án 15/4/2025 để đảm bảo thi hành án.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và các Điều 104, 105, 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tiếp tục lưu trữ tại hồ sơ vụ án 02 (hai) hợp đồng cầm đồ đề ngày 30/11/2024 của Tiệm Cầm đồ Gia B.
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (một) xe mô tô không rõ nhãn hiệu, màu đỏ, số khung: DH88XF310618, số máy: SM004646.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) biển số xe 86K7-0911; 01 (một) áo thun ngắn tay màu đen, phía trước ngực áo có chữ DSQUARED2; 01 (một) quần short jean màu xanh; 01 (một) nón bảo hiểm màu cam đen dạng nữa đầu, có chữ NonViet; 01 (một) đôi dép kẹp màu đen (đã qua sử dụng).
(Vật chứng này do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 12/QĐ-VKS ngày 10/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An).
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Buộc bị cáo Mai Văn T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo T có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 15/4/2025). Ông Nguyễn Vũ Lê D, ông Trần Thái D1 vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Quân |
5
Bản án số 16/2025/HS-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 16/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mai Văn T "Trộm cắp tài sản"
