|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 16/2025/HS-ST Ngày 14 tháng 02 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hà Giang;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Hảo;
Bà Nguyễn Thị Phẩm.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Quân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Phạm Khắc Việt - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/TLST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 05/QĐXXST-HS ngày 03/02/2025, đối với Bị cáo:
Họ và tên: Đặng Đức T; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 28 tháng 11 năm 1994, tại huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu C, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 03/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đoàn thể: không; Con ông: Đặng Tiến C, sinh năm 1964; Con bà: Nguyễn Thị N, sinh năm 1960; Hiện bố, mẹ ở Khu C, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Anh em ruột: Bị cáo là con duy nhất; Vợ, con: Chưa có;
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân (án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật): Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 29/8/2024 chuyển tạm giam ngày 01/9/2024. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh P (Có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Đặng Đức T: Ông Lê Văn C1 – Luật sư thuộc Công ty L – Đoàn Luật sư tỉnh P.
Địa chỉ: Số B đường H, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).
Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Đặng Đức T: Bà Bùi Thu H, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P.
Địa chỉ: Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P - Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ - Nhà Văn hóa lao động phường T, TP V, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).
Người bị hại: Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1967; Địa chỉ: Khu C, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1960; Địa chỉ: Khu C, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).
Người Làm chứng:
-
Anh Nguyễn Đức N1, sinh năm 1964;
Địa chỉ: Khu C, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt).
-
Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1960;
Địa chỉ: Khu C, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
a) Về hành vi phạm tội của Bị cáo:
Đặng Đức T- sinh năm: 1994, ở cùng nhà với bố, mẹ là ông Đặng Tiến C- sinh năm: 1964 và bà Nguyễn Thị N- sinh năm: 1960 cùng trú tại: khu C, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Khoảng 13 giờ ngày 28/8/2024, gia đình Đặng Đức T cùng những người thân và hàng xóm tổ chức ăn cơm tại gian phòng khách của gia đình. Quá trình ngồi ăn uống, T ngồi cùng mâm với anh Nguyễn Văn H1- sinh năm: 1967; anh Nguyễn Hồng Q- sinh năm: 1969; anh Nguyễn Đức N1- sinh năm: 1964 đều trú tại khu C, xã V, huyện T và anh Đào Văn N2- sinh năm: 1969, trú tại 457, đường số C, khu A, phường H, TP ., tỉnh Bình Dương. Anh H1 là con nuôi của bà N.Quá trình ăn uống T có uống một cốc bia.Đến khoảng 16 giờ cùng ngày thì ăn uống xong, T đứng dậy cầm âu nhựa đi xuống gian nhà bếp để lấy nước, anh H1 cũng đứng dậy đi xuống gian nhà bếp. Tại vị trí để máy lọc nước trong gian bếp, anh H1 nói với T “T ơi chú có làm gì đâu mà cháu ghét chú thế”, T nói “Buông tay ra, mày định giết tao thì tao cho mày chết”. Lúc này T và anh H1 đứng đối diện nhau, T lấy 01 (một) con dao chặt trên bàn ăn cầm bằng tay trái chém liên tiếp nhiều nhát trúng vào vùng đầu phía trước, vùng mặt của anh H1, anh H1 dơ tay trái lên đỡ thì bị chém trúng vào cạnh bàn tay trái. Cùng lúc đó, bà Nguyễn Thị N, đang rửa bát ở thềm giếng nghe thấy tiếng T nói với anh H1“Mày định giết tao thì tao cho mày chết” nên chạy vào để can ngăn. Bà N đứng ở giữa anh H1 và T để can ngăn mặt quay về phía anh H1, tay anh H1 vẫn đang nắm lấy tay phải của T và cúi đầu thấp xuống hướng về phía chính diện bà N và T. T tiếp tục cầm dao chém qua bà N theo hướng từ trên xuống dưới vào vùng đầu phía sau, vùng lưng của anh H1.Bà N vừa can ngăn vừa hô hoán thì mọi người từ phòng khách chạy xuống can ngăn nên T không chém được anh H1 nữa. Hậu quả: Anh Nguyễn Văn H1 bị thương ở vùng đầu, mặt, tay trái và lưng phải đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện T đến ngày 06/09/2024 thì ra viện.
Kết quả xác minh thương tích ban đầu anh Nguyễn Văn H1 bị: Vùng đầu có 06 vết thương bờ sắc gọn, kích thước từ 3cm đến 7 cm. Vết thương vùng chẩm, sâu sát xương sọ, tổn thương bản ngoài xương sọ, các vết thương vùng đỉnh đầu sâu sát sương sọ. 01 vết thương vùng bàn tay trái lóc da kích thước 2x2cm, 01 vết thương vùng lưng dài 2cm, bờ sắc, gọn, sâu.
Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P đã tiến hành trưng cầu giám định thương tích đối với anh Nguyễn Văn H1. Tại kết luận giám định thương tích số 159 ngày 29/08/2024 Trung tâm pháp y tỉnh P. Kết luận :
- + Vùng đầu có 03 vết thương:
- Vết thương số một: 01%
- Vết thương số hai 01%
- Vết thương số ba: 01%
- Vỡ xương chẩm: 08%
- + Vùng mặt có 03 vết thương:
- Vết thương số một:03%
- Vết thương số hai: 03%
- Vết thương số ba: 03%
- + Vết thương vùng lưng: 01%
- + Vết thương bàn tay trái: 01%
- + Tại thời điểm giám định bệnh nhân đang điều trị vết thương hở nên Trung tâm pháp y chưa đánh giá được hết các tổn thương.
AP dụng phương pháp cộng tại thông tư: làm tròn 20%
Tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Nguyễn Văn H1 là 20%
Cơ chế hình thành vết thương: Ba vết thương vùng đầu, vỡ xương chẩm, ba vết thương vùng mặt, vết thương bàn tay trái, vết thương vùng lưng: do tác động của vật sắc gây nên.
Ngày 28/10/2024 cơ quan CSĐT đã tiến hành trưng cầu giám định bổ sung đối với thương tích của anh Nguyễn Văn H1.Tại kết luận giám định bổ sung số 207 ngày 31/10/2024 của trung tâm pháp y tỉnh P. Kết luận:
- - Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Nguyễn Văn H1 giám định bổ sung là : 01%
- - Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông nguyễn Văn H1 tại KLGĐ số 159 ngày 29/08/2024 là 20%.
- - Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sau khi giám định bổ sung của ông Nguyễn Văn H1 là 21%.
Cơ chế hình thành vết sẹo đốt 2 ngón V bàn tay trái: Do vật sắc gây nên
Quá trình điều tra bà Nguyễn Thị N đã tự nguyện giao nộp: 01 con dao dạng chặt có kích thước dài 40 cm, gồm phần lưỡi bằng kim loại màu đen dài 29 cm, dao có một lưỡi sắc, lưỡi dao có chỗ rộng nhất là 06 cm, hẹp nhất là 03 cm. Phần chuôi dao bằng gỗ dạng trụ tròn dài 11 cm, giữa lưỡi dao và chuôi dao có vòng khâu kim loại, đuôi chuôi dao có một vòng khâu kim loại đường kính 03 cm đã qua sử dụng,
đây là con dao T đã dùng để chém anh H1; 01 chiếc áo cộc tay màu xám, không cổ; 01 chiếc quần đùi màu xám cạp chun đã qua sử dụng là bộ quần áo T mặc khi chém anh H1.
Anh Nguyễn Văn H1 tự nguyện giao nộp: 01 áo cộc tay màu xanh rêu phía dưới cổ áo có 01 vết rách dài 03 cm, rộng 0,2 cm; 01 chiếc quần ngố màu ghi đều đã qua sử dụng, là bộ quần áo anh H1 mặc khi bị T chém.
Cơ quan CSĐT đã trưng cầu giám định mẫu Gen (AND ) trên con dao và mẫu Gen (AND) qua 10 sợi tóc của Đặng Đức T và anh Nguyễn Văn H1.Tại KLGĐ số 487.24 ngày 10/09/2024 của V, cục Q1. Kết luận: Dấu vết thu trên chuôi dao và lưỡi dao gửi giám định có sinh phẩm người, có AND nhiễm sắc thể thường với nồng độ rất thấp, không đủ điều kiện so sánh,.
Ngày 18/09/2024 Cơ quan CSĐT công an tỉnh P đã trưng cầu giám định pháp y tâm thần đối với Đặng Đức T. Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc số 149 ngày 11/10/2024. Kết luận:
-
Đặng Đức T, sinh năm 1994, bị bệnh tâm thần: Chậm phát triển tâm thần vừa, có rối loạn cảm xúc hành vi, bệnh có mã F71 ( theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 về các rối loạn tâm thần và hành vi)
-
Tại thời điểm ngày 28/08/2024, Đặng Đức T bị bệnh tâm thần: Chậm phát triển tâm thần vừa, có rối loạn cảm xúc hành vi. Đặng Đức T hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
-
Hiện tại ( tại thời điểm giám định) Đặng Đức T bị bệnh tâm thần: Chậm phát triển tâm thần vừa, có rối loạn cảm xúc hành vi. Đặng Đức T hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh P, bị can Đặng Đức T trả lời lung tung, không đúng trọng tâm câu hỏi, nên cơ quan điều tra không làm việc được với T. Tuy nhiên căn cứ lời khai của nhân chứng bà Nguyễn Thị N là người trực tiếp can ngăn và nhìn thấy T chém anh H1; lời khai của những người có mặt tại nhà của T ngay sau khi xảy sự việc cùng với các tài liệu thu giữ vật chứng, kết luận giám định. Có đủ cơ sở để xác định Đặng Đức T là người đã dùng dao chém anh Nguyễn Văn H1.
Về nguyên nhân, động cơ, mục đích, tính chất hành vi phạm tội: Quá trình điều tra xác định Đặng Đức T là người có tiền sử bị bệnh chậm phát triển tâm thần trung bình có rối loạn cảm xúc, hành vi. Trong quá trình sinh sống T có mâu thuẫn với anh H1 do có lần T phát bệnh không chịu đi bệnh viện, gia đình T1 đã nhờ anh H1 và một số người hàng xóm đến cưỡng chế T1 lên xe để đưa đến Bệnh viện Tâm thần tỉnh P điều trị. Nên ngày 28/08/2024 Đặng Đức T đã có hành vi dùng dao chém anh H1 như đã nêu trên.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị can Đặng Đức T có nhân thân tốt, phạm tội trong tình trạng bị mắc bệnh tâm thần, hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị
can; ông, bà nội T đều là người có công với cách mạng được tặng thưởng huân chương kháng chiến. Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận có chém ông H1 và xin lỗi bị hại nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị can không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào.
b) Về trích dẫn Cáo trạng của Viện kiểm sát:
Tại Bản cáo trạng số: 05/CT - VKS-P2 ngày 07/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đã truy tố Bị cáo Đặng Đức T về tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng: Khoản 2 Điều 123; Điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 điều 54; Khoản 3 điều 57; điều 38 của Bộ luật hình sự;
- - Xử phạt bị cáo Đặng Đức T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giữ 29/8/2024.
Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận bị cáo và đại diện gia đình bị cáo là bà Nguyễn Thị N cùng Người bị hại là anh Nguyễn Văn H1 tự nguyện thỏa thuận bị cáo phải bồi thường tất cả các khoản chi phí do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra cho anh H1 là 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng) số tiền trên anh H1 đã nhận đủ theo đơn xin nhận bồi thường ngày 08/01/2025.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c Khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu 01 con dao dạng chặt có kích thước dài 40 cm, 01 chiếc áo cộc tay màu xám không cổ, 01 chiếc quần đùi màu xám cạp chun đã qua sử dụng của Đặng Đức T; 01 áo cộc tay màu xanh rêu phía dưới cổ áo có 01 vết rách dàu 03 cm, rộng 0,2 cm,01 chiếc quần ngố màu ghi đều đã qua sử dụng của anh Nguyễn Văn H1 để tiêu hủy.
Xác nhận cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh P đã trả lại cho gia đình bà Nguyễn Thị N 01 chiếc thẻ nhớ (Loại thẻ lắp trong camera) dung lượng 64 G loại thẻ Kingston đã qua sử dụng theo biên bản về việc trả lại tài sản, đồvật, tài liệu lập ngày 25/10/2024 là hợp pháp.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo Đặng Đức T nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, xử lý vật chứng, án phí. Về điều luật áp dụng, đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 51 BLHS cho bị cáo. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong qúa trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Những chứng cứ xác định có tội:
Tại phiên toà sơ thẩm Bị cáo Đặng Đức T khai không đúng trọng tâm câu hỏi của hội đồng xét xử, kiểm sát viên và người bào chữa cho bị cáo. Nhưng căn cứ vào các tài liệu có lưu trong hồ sơ vụ án, lời khai của Người bị H2, Người làm chứng; Biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản kết luận giám định, biên bản làm việc, bệnh án ngoại khoa, thời gian, địa điểm nơi sảy ra vụ án, cùng các tài liệu khác có lưu trong hồ sơ vụ án và vật chứng thu giữ được có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ ngày 28/08/2024, tại khu vực phòng bếp của gia đình Đặng Đức T, thuộc khu C, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Đặng Đức T đã có hành vi dùng 01 con dao dạng dao chặt, dài 40 cm chém liên tiếp nhiều nhát trúng vào đầu, mặt, tay trái, lưng của anh Nguyễn Văn H1. Hậu quả: anh Nguyễn Văn H1 bị: 06 vết thương vùng đầu bờ sắc gọn, kích thước từ 3cm đến 7 cm, các vết thương vùng đầu đều sâu sát xương sọ, tổn thương bản ngoài xương sọ; 01 vết thương vùng bàn tay trái lóc da kích thước 2x2cm; 01 vết thương vùng lưng có vết thương dài 2cm, bờ sắc gọn, sâu. Tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Văn H1 là 21%.
Hành vi của Đặng Đức T sử dụng hung khí nguy hiểm chém vào vùng đầu, mặt, tay, lưng của anh Nguyễn Văn H1 là vùng trọng yếu trên cơ thể. Do Đặng Đức T bị mắc bệnh tâm thần hạn chế khả nặng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi. Việc anh Nguyễn Văn H1 không chết là ngoài ý muốn chủ quan của T. Do đó, hành vi của T đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người”, thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt.
Việc truy tố và xét xử T về tội “Giết người” quy định tại khoản 2, Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng quy định của pháp luật.
- Điều 123 Bộ luật Hình sự tội Giết người quy định:
1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a)
2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.”
[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Vụ án có tính chất rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo muốn tước đoạt tính mạng của người khác trái pháp luật được pháp luật hình sự bảo vệ. Mặc dù hậu quả chết người chưa xảy ra. Nhưng đó là nguyên nhân ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo.
Bị cáo là người bị mắc bệnh tâm thần hạn chế khả nặng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội ngày 28/8/2024 và tại thời điểm giám định ngày 11/10/2024. Theo quy định của pháp luật thì bị cáo vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp; động cơ, mục đích phạm tội là do có mâu thuẫn với anh H1 từ trước nên bị cáo đã dùng 01 con dao chém nhiều nhát vào vùng đầu, mặt, tay trái, lưng của anh Nguyễn Văn H1. Do đó, hành vi phạm tội của Bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật, như vậy mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đặng Đức T phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng; Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa Bị cáo khai không đúng trọng tâm câu hỏi nhưng thừa nhận có chém anh H1 và đã xin lỗi người bị hại, bị cáo mắc bệnh tâm thần hạn chế khả nặng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi, gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường thay bị cáo cho người bị hại số tiền 15.000.000 đồng; đại diện gia đình người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; ông, bà nội bị cáo đều là người có công với cách mạng được tặng thưởng huân chương kháng chiến; Hành vi phạm tội của bị cáo chưa gây thiệt hại đến tính mạng của người khác nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy rằng: Bị cáo Đặng Đức T trước khi phạm tội lần này bản thân chưa có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt và lại bị mắc bệnh tâm thần hạn chế khả nặng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi. Bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự, để quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp. Do hành vi phạm tội của bị cáo chưa gây ra hậu quả nên thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt vì vậy khi áp dụng mức hình phạt cần áp dụng khoản 3 Điều 57 của Bộ luật hình sự. Xong với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra mặc dù hậu quả chưa xảy ra nhưng thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Vì vậy lần phạm tội này cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời
sống xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo thành người công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 4 điều 123 quy định: Người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.
Sau khi xem xét nhân thân của bị cáo thì thấy bị cáo không nghề nghiệp lại bị mắc bệnh nên lần phạm tội này không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.
[4] Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình chuẩn bị xét xử, tại phiên tòa, bị cáo và gia đình bị cáo cùng người bị hại anh Nguyễn Văn H1 thỏa thuận bị cáo phải bồi thường tất cả các khoản chi phí do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra cho anh H1 là 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng) số tiền trên anh H1 đã nhận đủ theo đơn xin nhận bồi thường ngày 08/01/2025, nay anh H1 không yêu cầu bị cáo và gia đình phải bồi thường bất cứ khoản tiền gì. Nên cần ghi nhận sự tự nguyện này là phù hợp pháp luật.
[5] Về xử lý vật chứng:
Trong quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh P đã thu giữ 01 con dao dạng chặt có kích thước dài 40 cm, 01 chiếc áo cộc tay màu xám không cổ, 01 chiếc quần đùi màu xám cạp chun đã qua sử dụng của Đặng Đức T; 01 áo cộc tay màu xanh rêu phía dưới cổ áo có 01 vết rách dài 03 cm, rộng 0,2 cm,01 chiếc quần ngố màu ghi đều đã qua sử dụng của anh Nguyễn Văn H1.
Xét thấy những vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Ngoài ra cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh P còn thu giữ của gia đình bà Nguyễn Thị N 01 chiếc thẻ nhớ (Loại thẻ lắp trong camera) dung lượng 64 G loại thẻ Kingston đã qua sử dụng. Xét thấy không có liên quan gì đến vụ án nên ngày 25/10/2024 cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh P đã trả lại cho bà N theo biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu lập ngày 25/10/2024 là hợp pháp.
[6] Về án phí: Bị cáo Đặng Đức T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, Người bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[8] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp pháp luật nên chấp nhận, đề nghị của Luật sư là không có cơ sở nên không được chấp nhận
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 123; điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 3 Điều 57; Điều 38 của Bộ luật hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 nguy 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
[1] Tuyên bố bị cáo: Đặng Đức T phạm tội “Giết người”.
[2] Trách nhiệm hình sự, hình phạt:
Xử phạt: Bị cáo Đặng Đức T 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giữ 29/8/2024.
Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đặng Đức T.
[3] Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận bị cáo và đại diện gia đình bị cáo bà Nguyễn Thị N cùng Người bị hại anh Nguyễn Văn H1 tự nguyện thỏa thuận bị cáo phải bồi thường tất cả các khoản chi phí do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra cho anh H1 là 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng) số tiền trên anh H1 đã nhận đủ theo đơn xin nhận bồi thường ngày 08/01/2025.
[4] Về Xử lý vật chứng:
Tịch thu 01 con dao dạng chặt có kích thước dài 40 cm, 01 chiếc áo cộc tay màu xám không cổ, 01 chiếc quần đùi màu xám cạp chun đã qua sử dụng của Đặng Đức T; 01 áo cộc tay màu xanh rêu phía dưới cổ áo có 01 vết rách dàu 03 cm, rộng 0,2 cm,01 chiếc quần ngố màu ghi đều đã qua sử dụng của anh Nguyễn Văn H1 để tiêu hủy.
(Các vật chứng trên theo biên bản giao, nhận vật chứng do cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh P và cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ lập ngày 09/01/2025).
Xác nhận cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh P đã trả lại cho gia đình bà Nguyễn Thị N 01 chiếc thẻ nhớ (Loại thẻ lắp trong camera) dung lượng 64 G loại thẻ Kingston đã qua sử dụng theo biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu lập ngày 25/10/2024 là hợp pháp.
[5] Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[6] Quyền kháng cáo: Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hà Giang |
Bản án số 16/2025/HS-ST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về giết người (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 16/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Giết người (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Đức T
