Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẦU KÈ

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2025/HS-ST

Ngày: 11-03-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Trúc Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Nam Đừng;
  2. Ông Đặng Lễ Nghi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quốc Hi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè tham gia phiên tòa: Ông Thạch Tha - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13 /2025/TLST-HS ngày 13/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17 2025/QĐXXST-HS ngày 24/02/2025 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Nhựt T, sinh ngày 23/09/1986 tại tỉnh Vĩnh Long; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Nơi cư trú: Ấp V, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; Con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1952 và bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1952; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25/9/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  2. Lê Văn Đ, sinh ngày 04/5/1988 tại tỉnh Trà Vinh; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 10/12; Nơi cư trú: Ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh; Con ông Lê Thanh B, sinh năm 1962 và bà Trương Thị M, sinh năm 1959; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25/9/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 20/01/2024, bị cáo Nguyễn Nhựt T, bị cáo Lê Văn Đ, Lê Văn T3, Ngô Văn B1 đến quán giải khát “Vườn Mai” của Ngô Quốc K ngụ tại ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh uống nước và sử dụng điện thoại di động, máy tính bảng truy cập vào các trang website để xem các trận đá gà được phát trực tiếp trên mạng và nhắn tin thông qua ứng dụng Zalo tham gia đặt tiền cược đánh bạc.

Cụ thể: Bị cáo Nguyễn Nhựt T nhắn tin đặt tiền cược đánh bạc với tài khoản tên “Tiền Vô” trên mạng xã hội Zalo (bị cáo không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể), thỏa thuận tỷ lệ thắng thua là 10:8, tức là khi bị cáo T thắng sẽ được 80% tiền đặt cược, thua 100% tiền đặt cược.

Bị cáo Lê Văn Đ nhờ bị cáo T giúp đặt tiền cược đánh bạc với người khác, bị cáo T đồng ý nhắn tin đặt tiền cược giúp và cùng với bị cáo Đ đánh bạc với tài khoản tên “Tiền Vô” trên mạng xã hội Zalo với tỷ lệ thắng thua là 10:8, tức là khi bị cáo Đại thắng sẽ được 80% tiền đặt cược, thua 100% tiền đặt cược.

Ông Ngô Văn B1 trực tiếp thỏa thuận đánh bạc với bị cáo T với tỷ lệ thắng thua là 1:1, tức là khi ông B1 thắng sẽ được 100% tiền đặt cược, thua 100% tiền đặt cược.

Ông Lê Văn T3 trực tiếp thỏa thuận đánh bạc với bị cáo Đ với tỷ lệ thắng thua là 10:8, tức là khi ông T3 thắng sẽ được 80% tiền đặt cược, thua 100% tiền đặt cược.

* Bị cáo Nguyễn Nhựt T và bị cáo Lê Văn Đ đánh bạc với “Tiền Vô” gồm các trận đá gà cụ thể như sau:

  • Trận thứ 1: Bị cáo T dự đoán gà có chân quấn băng keo màu đỏ (gọi tắt là gà đỏ) sẽ thắng, đặt cược số tiền là 2.000.000đ (hai triệu đồng). Kết quả, bị cáo T dự đoán đúng, thắng được 1.600.000đ (một triệu sáu trăm nghìn đồng).

    Tổng số tiền bị cáo T dùng đánh bạc là 3.600.000đ (ba triệu sáu trăm nghìn đồng).

  • Trận thứ 2: Bị cáo T dự đoán gà đỏ sẽ thắng, đặt cược số tiền là 1.000.000đ (một triệu đồng). Kết quả, bị cáo T dự đoán sai, thua 1.000.000đ (một triệu đồng).

    Tổng số tiền bị cáo T dùng đánh bạc là 1.000.000đ (một triệu đồng).

  • Trận thứ 3: Bị cáo T dự đoán gà có chân quấn băng keo màu xanh (gọi tắt là gà xanh) sẽ thắng, đặt cược số tiền là 3.000.000đ (ba triệu đồng). Kết quả, bị cáo T dự đoán sai, thua 3.000.000đ (ba triệu đồng).

    Tổng số tiền bị cáo T dùng đánh bạc là 3.000.000đ (ba triệu đồng).

  • Trận thứ 4: Bị cáo T dự đoán gà đỏ sẽ thắng, đặt cược số tiền là 3.000.000đ (ba triệu đồng). Kết quả, bị cáo T dự đoán đúng, thắng được 2.400.000đ (hai triệu bốn trăm nghìn đồng).

    Tổng số tiền bị cáo T dùng đánh bạc là 5.400.000đ (năm triệu bốn trăm nghìn đồng).

  • Trận thứ 5: Bị cáo T và bị cáo Đ cùng dự đoán gà đỏ sẽ thắng. Bị cáo T đặt cược tiền là 3.000.000đ (ba triệu đồng). Bị cáo Đ đặt cược số tiền là 3.000.000đ (ba triệu đồng). Kết quả, bị cáo T và bị cáo Đ cùng dự đoán đúng, bị cáo T thắng được 2.400.000đ (hai triệu bốn trăm nghìn đồng); bị cáo Đại thắng được 2.400.000đ (hai triệu bốn trăm nghìn đồng).

    Tổng số tiền bị cáo T dùng đánh bạc là 5.400.000đ (năm triệu bốn trăm nghìn đồng); bị cáo Đ dùng đánh bạc là 5.400.000đ (năm triệu bốn trăm nghìn đồng).

  • Trận thứ 6: Bị cáo T và bị cáo Đ cùng dự đoán gà xanh sẽ thắng. Bị cáo T đặt cược số tiền là 5.000.000đ (năm triệu đồng). Bị cáo Đ đặt cược số tiền là 1.000.000đ (một triệu đồng). Kết quả, bị cáo T và bị cáo Đ cùng dự đoán sai, bị cáo T thua 5.000.000đ (năm triệu đồng); bị cáo Đại thua 1.000.000đ (một triệu đồng).

    Tổng số tiền bị cáo T dùng đánh bạc là 5.000.000đ (năm triệu đồng); bị cáo Đ dùng đánh bạc là 1.000.000đ (một triệu đồng).

  • Trận thứ 7: Bị cáo T và bị cáo Đ cùng dự đoán gà xanh sẽ thắng. Bị cáo T đặt cược số tiền là 5.000.000đ (năm triệu đồng). Bị cáo Đ đặt cược số tiền là 3.000.000đ (ba triệu đồng). Kết quả, bị cáo T và bị cáo Đ cùng dự đoán sai, bị cáo T thua 5.000.000đ (năm triệu đồng); bị cáo Đại thua 3.000.000đ (ba triệu đồng).

    Tổng số tiền bị cáo T dùng đánh bạc là 5.000.000đ (năm triệu đồng); bị cáo Đ dùng đánh bạc là 3.000.000đ (ba triệu đồng).

  • Trận thứ 8: Bị cáo T và bị cáo Đ cùng dự đoán gà xanh sẽ thắng. Bị cáo T đặt cược số tiền là 3.000.000đ (ba triệu đồng). Bị cáo Đ đặt cược số tiền là 3.000.000đ (ba triệu đồng). Kết quả, bị cáo T và bị cáo Đ cùng dự đoán sai, bị cáo T thua 3.000.000đ (ba triệu đồng); bị cáo Đại thua 3.000.000đ (ba triệu đồng).

    Tổng số tiền bị cáo T dùng đánh bạc là 3.000.000đ (ba triệu đồng); bị cáo Đ dùng đánh bạc là 3.000.000đ (ba triệu đồng).

  • Trận thứ 9: Bị cáo T và bị cáo Đ cùng dự đoán gà đỏ sẽ thắng. Bị cáo T đặt cược số tiền là 7.000.000đ (bảy triệu đồng). Bị cáo Đ đặt cược số tiền là 1.000.000đ (một triệu đồng). Kết quả, bị cáo T và bị cáo Đ cùng dự đoán đúng, bị cáo T thắng được 5.600.000đ (năm triệu sáu trăm nghìn đồng); bị cáo Đại thắng được 800.000đ (tám trăm nghìn đồng).

    Tổng số tiền bị cáo T dùng đánh bạc là 12.600.000đ (mười hai triệu sáu trăm nghìn đồng); bị cáo Đ dùng đánh bạc là 1.800.000đ (một triệu tám trăm nghìn đồng).

  • Trận thứ 10: Bị cáo T và bị cáo Đ cùng dự đoán gà xanh sẽ thắng. Bị cáo T đặt cược số tiền là 5.000.000đ (năm triệu đồng). Bị cáo Đ đặt cược số tiền là 3.000.000đ (ba triệu đồng). Kết quả, bị cáo T và bị cáo Đ cùng dự đoán đúng, bị cáo T thắng được 4.000.000đ (bốn triệu đồng); bị cáo Đại thắng được 2.400.000đ (hai triệu bốn trăm nghìn đồng).

    Tổng số tiền bị cáo T dùng đánh bạc là 9.000.000đ (chín triệu đồng); bị cáo Đ dùng đánh bạc là 5.400.000đ (năm triệu bốn trăm nghìn đồng)

* Ngoài hành vi trên, ông Ngô Văn B1 đánh bạc với bị cáo T gồm các trận đá gà cụ thể như sau:

  • Trận thứ 9: Ông B1 dự đoán gà xanh sẽ thắng, đặt cược 100.000đ (một trăm nghìn đồng). Kết quả, ông B1 dự đoán sai, thua 100.000 đ (một trăm nghìn đồng).

    Tổng số tiền ông B1 dùng đánh bạc là 100.000đ (một trăm nghìn đồng), bị cáo T dùng đánh bạc là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng)

  • Trận thứ 10: Ông B1 dự đoán gà xanh sẽ thắng, đặt cược 100.000đ (một trăm nghìn đồng). Kết quả, ông B1 dự đoán đúng, thắng được 100.000đ (một trăm nghìn đồng).

    Tổng số tiền ông B1 dùng đánh bạc là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng), bị cáo T dùng đánh bạc là 100.000đ (một trăm nghìn đồng)(Bút lục số: 145-146)

* Ông Lê Văn T3 đánh bạc với bị cáo Đ trong trận đá gà thứ 5:

Ông T3 dự đoán gà đỏ sẽ thắng, đặt cược 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Kết quả, ông T3 dự đoán đúng, thắng được 240.000đ (hai trăm bốn mươi nghìn đồng).

Tổng số tiền ông T3 dùng đánh bạc là 540.000đ (năm trăm bốn mươi nghìn đồng) ( Bút lục số: 174-175).

Đến 13 giờ 20 phút ngày 20/01/2024, Công an huyện C kiểm tra, phát hiện bị cáo T, bị cáo Đ, ông B1, ông T3 đánh bạc, tiến hành lập biên bản sự việc, tạm giữ tang vật và mời người có liên quan về Công an huyện C để xác minh, làm rõ.

Ngày 29/08/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, trong gói niêm phong ký hiệu NS2, mã số NS2A 056077; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, trong gói niêm phong ký hiệu NS2, mã số NS2A 056078; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, trong gói niêm phong ký hiệu NS2, mã số NS2A 056080; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, trong gói niêm phong ký hiệu NS2, mã số NS2A 056081; 01 (một) máy tính bảng nhãn hiệu S1, trong gói niêm phong ký hiệu NS2, mã số NS2A 056082.

Tại bản kết luận giám định số: 452/KL-KTHS, ngày 17/9/2024 kết luận:

  • Trong điện thoại di động hiệu Vivo màu đen không tìm thấy lịch sử truy cập website, dữ liệu Zalo thời gian 00 giờ 00 phút ngày 20/01/2024 đến 23 giờ 59 phút ngày 20/01/2024:
  • Trong điện thoại di động hiệu Redmi 10C màu đen không tìm thấy lịch sử truy cập website, dữ liệu Zalo thời gian 00 giờ 00 phút ngày 20/01/2024 đến 23 giờ 59 phút ngày 20/01/2024.
  • Trong điện thoại di động hiệu S2 A14 3G phục hồi, trích xuất được: 09 (chín) dữ liệu truy cập website, 07 (bảy) tin nhắn Zalo.
  • Trong điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A51 màu xanh không tìm thấy lịch sử truy cập website, dữ liệu Zalo thời gian 00 giờ 00 phút ngày 20/01/2024 đến 23 giờ 59 phút ngày 20/01/2024.

Không tìm thấy lịch sử truy cập website trong máy tính bảng, thời gian 00 giờ 00 phút ngày 20/01/2024 đến 23 giờ 59 phút ngày 20/01/2024.

Quá trình điều tra xác định: Vào khoảng tháng 12/2023, bị cáo T vào một nhóm người trên mạng xã hội “Tik Tok” và được thành viên nhóm yêu cầu để lại số điện thoại liên lạc qua mạng xã hội Zalo thỏa thuận việc đánh bạc bằng hình thức đá gà qua mạng, bị cáo T nảy sinh ý định đá gà qua mạng nên để lại số điện thoại của mình 0372.408.xxx có đăng ký tài khoản mạng xã hội Zalo tên “Phuoc An” để người trên nhóm “Tik Tok” liên lạc đánh bạc. Sau đó, tài khoản Z “Phuoc An” nhận được tin nhắn của tài khoản “Tiền Vô” (bị cáo T không xác định được số điện thoại dùng đăng ký Zalo) thỏa thuận cách thức đánh bạc như sau: Bị cáo T sử dụng tài khoản “Phuoc An” nhắn tin, dự đoán bên gà sẽ thẳng kèm theo số tiền dùng đánh bạc gửi đến tài khoản “Tiền Vô”. Nếu đồng ý đánh bạc, “Tiền Vô” sẽ thả tim màu đỏ vào tin nhắn đánh bạc của bị cáo T (“Phuoc An”) để xác nhận đồng ý. Khi trận đá gà có kết quả thắng thua, “Tiền Vô” sẽ nhắn tin số tiền bị cáo T “Phuoc An” được thắng hoặc thua trong trận đá gà đó. Đến khi kết thúc trận đá gà cuối cùng trong ngày, bị cáo T thua sẽ chuyển tiền từ tài khoản 060158556807 của bị cáo T mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần S3 (S4) vào số tài khoản 19838868888888 của Ngân hàng thương mại cổ phần K1 (T5) để trả tiền đánh bạc và ngược lại. Sau khi thực hiện giao dịch chuyển tiền, bị cáo T sẽ liên lạc với số điện thoại 0966.212.xxx để kiểm tra, xác nhận việc giao, nhận tiền.

Ngày 20/01/2024, bị cáo Đ sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xám để xem các trận gà, sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh lam để nhắn tin đánh bạc cùng bị cáo T. Bị cáo T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu đen để xem các trận gà, sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen để nhắn tin đánh bạc với “Tiền Vô” và nhận tin nhắn đánh bạc từ bị cáo Đ, giúp và cùng bị cáo Đ đánh bạc với “Tiền Vô” theo thỏa thuận như trên. Đến khi kết thúc trận đá gà cuối cùng trong ngày, bị cáo Đại thua sẽ đưa tiền mặt cho bị cáo T giúp chi trả tiền đánh bạc và ngược lại. Bị cáo T và bị cáo Đ chơi đá gà đến trận thứ 10, chưa kết thúc việc đánh bạc, chưa dừng cuộc chơi, chưa biết được tổng tiền thắng, thua giữa bị cáo T và bị cáo Đ với “Tiền Vô” là bao nhiêu nên chưa thực hiện việc giao, nhận tiền tiền thông qua tài khoản ngân hàng, chưa phát sinh giao dịch chuyển, nhận tiền giữa tài khoản 060158556807 với tài khoản 19838868888888 nhằm mục đích đánh bạc.

- Bị cáo T không biết, không cung cấp được số điện thoại đăng ký tài khoản “Tiền Vô", Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không mời làm việc được.

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xác minh, xác định chủ số điện thoại 0966.212.xxx và tài khoản 19838868888888 là Nguyễn Văn H, sinh năm 1982, thường trú ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Ông H xác nhận có sử dụng tài khoản ngân hàng thực hiện giao dịch chuyển tiền giúp cho người tên H1 (không xác định được họ tên, cư trú tại xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng) đến tải khoản của bị cáo T để thu phí dịch vụ, không biết nhằm mục đích đánh bạc, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không xem xét xử lý. Ông Nguyễn Văn H không

cung cấp được họ tên, nơi ở cụ thể của người tên H1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không mời làm việc được.

Ngày 20/01/2024, Ngô Văn B1 đánh bạc với bị cáo Nguyễn Nhựt T, Lê Văn T3 đánh bạc với bị cáo Lê Văn Đ, số tiền dùng đánh bạc chưa đủ định lượng cấu thành tội phạm "Đánh bạc" quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự. Công an huyện C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo Nguyễn Nhựt T, ông Ngô Văn B1 với số tiền 3.000.000đ (ba triệu đồng), ông Lê Văn T3 với số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi đánh bạc quy định tại điểm a khoản 2 Điều 28 Nghị định 144/2021/ND-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

Địa điểm diễn ra vụ án đánh bạc trong khuôn viên quán nước giải khát “V" thuộc ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh do Ngô Quốc K trực tiếp kinh doanh. Bị cáo T và bị cáo Đ thực hiện hành vi đánh bạc, Ngô Quốc K không hay biết, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với K.

*Thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu; xử lý vật chứng:

Cơ quan điều tra tạm giữ như sau:

  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu đen, đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Nhựt T;
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen, đã qua sử dụng bị cáo Nguyễn Nhựt T;
  • T6 31.000.000đ (ba mươi mốt triệu đồng) bị cáo Nguyễn Nhựt T.
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xám, đã qua sử dụng của bị cáo Lê Văn Đ;
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xanh dương, đã qua sử dụng bị cáo Lê Văn Đ ;
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xanh lam, đã qua sử dụng và số tiền 4.000.000đ (bốn triệu đồng) của bị cáo Lê Văn Đ.
  • Tạm giữ của Ngô Văn B1: Số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
  • Tạm giữ của Lê Văn T3: 01(Một) máy tính bảng nhãn hiệu Sam sung, màu xám đã qua sử dụng và số tiền 540.000đ (Năm trăm bốn mươi nghìn đồng).

* Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã nộp vào tài khoản mở tại Kho bạc nhà nước huyện C quản lý đối với:

  • Đối với số tiền 31.000.000đ (ba mươi mốt triệu đồng) của bị cáo Nguyễn Nhựt T và 4.000.000đ (bốn triệu đồng) của bị cáo Lê Văn Đ.
  • Chuyển Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính đối với: Số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tạm giữ của ông Ngô Văn B1, số tiền 540.000đ (năm trăm bốn mươi nghìn đồng) tạm giữ của ông Lê Văn T3.

- Trả lại tài sản cho chủ sở hữu đối với: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xanh dương cho bị cáo Lê Văn Đ và 01 (một) máy tính bảng nhãn hiệu Samsung, màu xám cho Ngô Quốc K.

Cáo trạng số: 15/CT-VKSCK-HS ngày 12/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Nhựt T, Lê Văn Đ về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Nguyễn Nhựt T và Lê Văn Đ đều thừa nhận tham gia đánh bạc trái phép nhằm mục đích được, thua bằng tiền như đã nêu trên.

Tại phiên tòa hôm nay, Vị Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo, sau khi phân tích các chứng cứ buộc tội đối với các bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Vị Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Nhựt T và Lê Văn Đ phạm tội “Đánh bạc".

Về căn cứ pháp lý và mức hình phạt đề nghị áp dụng như sau:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm g khoản 2 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; và Điều 35 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Nhựt T số tiền từ 70-80 triệu đồng sung Ngân sách Nhà nước
  • Áp dụng khoản 1, Điều 321, điểm g khoản 1 Điều 52; điểm i, s khoản 1, Điều 51 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lê Văn Đại S tiền 30 triệu đến 35 triệu đồng;;

Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước đối với:

  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu đen của bị can Nguyễn Nhựt T;
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu đen của bị can Nguyễn Nhựt T;
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xám của bị can Lê Văn Đ;
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xanh lam của bị can Lê Văn Đ.

Trả lại số tiền 31.000.000đ (ba mươi mốt triệu đồng) cho bị cáo Nguyễn Nhựt T và trả lại số tiền 4.000.000 đồng cho bị cáo Lê Văn Đ, nhưng giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Kè quản lý để bảo đảm thi hành án.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy

định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thừa nhận những hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh truy tố cũng như lời luận tội của Kiểm sát viên. Trong lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét hành vi của các bị cáo Nguyễn Nhựt T và Lê Văn Đ: Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè đã truy tố cũng như lời luận tội của Vị Kiểm sát viên. Lời khai này của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản sự việc, biên bản khám nghiệm hiện trường và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 11 giờ ngày 20/01/2024 tại quán nước giải khát “Vườn Mai” của Ngô Quốc K, sinh năm 2002, thường trú ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Bị cáo Nguyễn Nhựt T và bị cáo Lê Văn Đ sử dụng mạng xã hội thông qua ứng dụng Zalo tham gia đánh bạc được thua bằng tiền với hình thức đá gà, bị cáo Nguyễn Nhựt T tham gia đánh bạc tổng cộng 10 trận (Trận ít nhất 1.000.000 đồng và trận nhiều nhất 12.600.000 đồng, có 06 trận đủ định lượng), bị can Lê Văn Đ tham gia đánh bạc tổng cộng 06 trận (trận ít nhất 1.000.000 đồng và trận nhiều nhất 5.400.000 đồng, có 02 trận đủ định lượng).

Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Nhựt T và Lê Văn Đ phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thẩm tra các quyết định của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố; xét thấy các quyết định của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều đúng quy định pháp luật, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại hoặc có ý kiến nào khác phản đối nên các quyết định và hành vi trên đều hợp pháp.

[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo: Đây là vụ án “Đánh bạc” có tính chất ít nghiêm trọng do các bị cáo Nguyễn Nhựt T và Lê Văn Đ trực tiếp thực hiện hành vi đánh bạc nhằm mục đích thu lợi bất chính. Bản thân các bị cáo trong vụ án là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, tại phiên tòa các bị cáo trình bày đều ý thức được việc đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm, lẽ ra các bị cáo phải tích cực chấp hành pháp luật, làm tốt vai trò của người công dân trong việc tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm, đặc biệt là tệ nạn cờ bạc, góp phần giữ vững tình hình trật tự xã

hội tại địa phương. Nhưng do ham lợi, muốn có tiền nhanh chóng để tiêu xài mà bất chấp pháp luật, các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần áp dụng một hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo; để có điều kiện cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành những người công dân tốt, có ích cho xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Nhựt T và Lê Văn Đ phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo:

  • Các bị cáo Nguyễn Nhựt T và Lê Văn Đ đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội đã gây ra.
  • Bị cáo Lê Nhựt T4 gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình.
  • Bị cáo Lê Văn Đ có có ông ngoại ruột tên Trương Văn P được công nhận Liệt sỹ, được tặng Huân chương kháng chiến hạng Ba.

Những tình tiết giảm nhẹ trên được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về quyết định hình phạt:

Đối với các bị cáo Nguyễn Nhựt T, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ở điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự ở khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Nhưng xét trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gia đình bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình, bị cáo đánh bạc nhiều lần nhưng chưa thu lợi, nên Hội đồng xét xử xem xét chỉ cần áp dụng Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt tiền đối với bị cáo để tác động đến lợi ích kinh tế của bị cáo, để bị cáo thấy được hậu quả do hành vi sai trái của mình, để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng pháp luật Nhà nước ta mà mà từ bỏ việc đánh bạc như lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

Đối với bị cáo Lê Văn Đ, bị cáo bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ở điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, xét bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo có công với cách mạng nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Về vật chứng của vụ án: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước đối với:

  • 01 (một) gói niêm phong mã số NS2, ký hiệu NS2A 056089, bên trong chứa 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu đen của bị can Nguyễn Nhựt T;
  • 01 (một) gói niêm phong mã số NS2, ký hiệu NS2A 056091, bên trong chứa 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu đen của bị can Nguyễn Nhựt T;
  • 01 (một) gói niêm phong mã số NS2, ký hiệu NS2A 056092, bên trong chứa 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xám của bị can Lê Văn Đ;
  • 01 (một) gói niêm phong mã số NS2, ký hiệu NS2A 056094, bên trong chứa 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xanh lam của bị can Lê Văn Đ.

Trả lại số tiền 31.000.000đ (ba mươi mốt triệu đồng) cho bị cáo Nguyễn Nhựt T và trả lại số tiền 4.000.000 đồng cho bị cáo Lê Văn Đ, nhưng giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Kè quản lý để bảo đảm thi hành án.

[8] Từ những phân tích nêu trên, xét thấy quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là phù hợp nên được chấp nhận.

[9] Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12, Điều 23, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc các Nguyễn Nhựt T và Lê Văn Đ mỗi người phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[10] Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Nhựt T và bị cáo Lê Văn Đ phạm tội “Đánh bạc".

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhựt T số tiền 70.000.000đ (bảy mươi triệu đồng) nộp Ngân sách Nhà nước.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Lê Văn Đại số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng) nộp Ngân sách Nhà nước.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước đối với:

  • 01 (một) gói niêm phong mã số NS2, ký hiệu NS2A 056089, bên trong chứa 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu đen của bị can Nguyễn Nhựt T;
  • 01 (một) gói niêm phong mã số NS2, ký hiệu NS2A 056091, bên trong chứa 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu đen của bị can Nguyễn Nhựt T;
  • 01 (một) gói niêm phong mã số NS2, ký hiệu NS2A 056092, bên trong chứa 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xám của bị can Lê Văn Đ;
  • 01 (một) gói niêm phong mã số NS2, ký hiệu NS2A 056094, bên trong chứa 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xanh lam của bị can Lê Văn Đ.

Hiện số vật chứng trên đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Kè.

Trả lại số tiền 31.000.000đ (ba mươi mốt triệu đồng) cho bị cáo Nguyễn Nhựt T và trả lại số tiền 4.000.000 đồng cho bị cáo Lê Văn Đ, nhưng giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Kè quản lý để bảo đảm thi hành án.

Hiện số tiền trên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã nộp vào tài khoản mở tại Kho bạc nhà nước huyện C quản lý.

Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Nhựt T và bị cáo Lê Văn Đ mỗi bị cáo phải chịu nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - VKSND tỉnh Trà Vinh;
  • - VKSND huyện Cầu Kè;
  • - Công an huyện Cầu Kè;
  • - CCTHADS huyện Cầu Kè;
  • - Các bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Trúc Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2025/HS-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ, TỈNH TRÀ VINH về hình sự sơ thẩm (đánh bạc)

  • Số bản án: 16/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án Hình sự về Tội Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger