|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 16/2025/HS-ST Ngày 10/12/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Mỹ Hằng.
- - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lò Văn Lâm
- 2. Ông Lò Việt Hưng
- - Thư ký phiên toà: Ông Lò Văn Sơm - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2 - Lai Châu.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Lai Châu tham gia phiên toà: Ông Lò Văn Đanh - Kiểm sát viên
Ngày 10/12/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2025/TLST-HS, ngày 06/11/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-HS ngày 27/11/2025 đối với bị cáo:
Đỗ Đức D; Sinh ngày: 10/10/1970; Tại: tỉnh Lai Châu.
Nơi ĐKHKTT: thôn C, xã T, tỉnh Lai Châu; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Đỗ Đức K – sinh năm: 1938 (đã chết) và bà: Lê Thị T, sinh năm 1940; Bị cáo có vợ: Trương Thị L – Sinh năm: 1987 và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: không.
Về nhân thân: tại bản án số 84/2006/HSST ngày 29/9/2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xử phạt Đỗ Đức D 06 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù từ ngày 21/5/2011, đã được xóa án tích;
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 17/7/2025, tạm giam từ ngày 23/7/2025, hiện đang tạm giam Phân trại tạm giam Tân Uyên.(Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 16/7/2025, Đỗ Đức D một mình đi bộ từ nhà thôn C, xã T, tỉnh Lai Châu xuống đường Quốc lộ 32 rồi bắt xe khách đến bản N, xã M, tỉnh Lai Châu, mục đích tìm mua Heroine sử dụng. Tại đây, Đỗ Đức D gặp một người phụ nữ dân tộc Mông không rõ nhân thân, lai lịch. Qua trao đổi, nói chuyện, D đã mua từ người phụ nữ đó 01 gói (bên ngoài được gói bằng mảnh giấy màu trắng có chữ màu đen, bên trong có 02 gói Heroine đều được gói bằng mảnh giấy màu trắng có chữ màu đen) với số tiền 200.000 đồng. Mua được H, Đỗ Đức D về nhà tại thôn C, xã T, tỉnh Lai Châu. Đến trưa ngày 17/7/2025, Dương cầm gói Heroine đi bộ từ nhà ra đồi chè thuộc thôn C, xã T để chuẩn bị sử dụng thì bị Công an xã T phát hiện, bắt quả tang hồi 12 giờ 15 phút cùng ngày
Vật chứng thu giữ của Đỗ Đức D 02 gói Heroine (bên ngoài được gói bằng mảnh giấy màu trắng có chữ màu đen).
Tại kết luận giám định số 588/KL-KTHS ngày 20/7/2025 của phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: số chất bột màu trắng thu giữ của Đỗ Đức D có tổng khối lượng 0,18 gam; là ma túy, loại: Heroine.
Vật chứng của vụ án: 02 gói Heroine có khối lượng 0,18 gam đã gửi giám định, không hoàn lại mẫu vật. Vật chứng còn lại 03 mảnh giấy màu trắng có chữ màu đen; 01 phong bì thư niêm phong ban đầu. Hiện số vật chứng trên đang được lưu giữ tại kho vật chứng Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 – Lai Châu.
Bản cáo trạng số: 15/CT-VKSKV2 ngày 05/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Lai Châu đã truy tố bị cáo Đỗ Đức D về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015 ( sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và bản cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo nội dung bản cáo trạng, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đỗ Đức D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 - Bộ luật hình sự 2015 ( sửa đổi, bổ sung năm 2025); điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 - Bộ luật hình sự năm 2015 ( sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Đỗ Đức D từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 08 tháng tù.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 - Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Về vật chứng: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 – BLHS năm 2015 ( sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm c khoản 2 Điều 106 – Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy vật chứng 03 mảnh giấy màu trắng có chữ màu đen; 01 phong bì thư niêm phong ban đầu là vật không còn giá trị sử dụng.
Bị cáo Đỗ Đức D phải chịu án phí hình sự theo quy định.
Bị cáo không bổ sung ý kiến gì thêm, nhất trí và không tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận ra hành vi mình thực hiện đã vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Ngày 16/7/2025, tại bản Noong Thăng, xã M, Đỗ Đức D đã mua trái phép 02 gói Heroine với số tiền 200.000 đồng, mục đích để sử dụng. Hồi 12 giờ 15 phút ngày 17/7/2025, Đỗ Đức D bị Công an xã T phát hiện, bắt quả tang khi đang tàng trữ 02 gói Heroine có khối lượng 0,18 gam. Hành vi nêu trên của bị cáo Đỗ Đức D đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 - Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) nên việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Lai Châu đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, làm mất trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được mọi hành vi liên quan đến chất ma túy đều vi phạm pháp luật, nhưng với ý thức coi thường pháp luật nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội, do đó cần phải xử lý nghiêm minh.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51- Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Ý kiến luận tội của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều, khoản truy tố, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.
[5] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Năm 2006, bị cáo Đỗ Đức D đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xử phạt 06 năm tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy, năm 2011, bị cáo chấp hành xong hình phạt, hiện đã được xóa án tích, bị cáo không lấy đó làm bài học rèn luyện bản thân vì nghiện chất ma túy nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý thể hiện thái độ coi thường pháp luật. Do đó, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo, để bị cáo có ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng sự quản lý của Nhà nước về các chất ma túy và cũng nhằm mục đích đấu tranh và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, không có thu nhập nào khác, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng các hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 - Bộ luật hình sự 2015 đối với bị cáo.
[7] Biện pháp ngăn chặn: cần áp dụng điều 329 – Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án, thời gian tạm giữ, tạm giam được khấu trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.
[8] Về vật chứng của vụ án gồm: 02 gói Heroine có khối lượng 0,18 gam đã gửi giám định, không hoàn lại mẫu vật. Vật chứng còn lại 03 mảnh giấy màu trắng có chữ màu đen; 01 phong bì thư niêm phong ban đầu là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Về nguồn gốc H, bị cáo Đỗ Đức D khai mua của một người phụ nữ không rõ nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Đỗ Đức D phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 - Bộ luật hình sự 2015 ( sửa đổi, bổ sung năm 2025); điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 - Bộ luật hình sự 2015 ( sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106; Điều 135, khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 - Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Căn cứ Điều 23 Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên bố bị cáo: Đỗ Đức D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Đỗ Đức D 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/7/2025.
- Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 03 mảnh giấy màu trắng có chữ màu đen; 01 phong bì thư niêm phong ban đầu.
(Tình trạng vật chứng, tài sản theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/11/2025 giữa Cơ quan CSĐT – Công an tỉnh L và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 – Lai Châu).
- Về án phí:
Bị cáo Đỗ Đức D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Toà án nhân dân cấp trên để xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Mỹ Hằng |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Lò Văn Lâm |
Lương Thị Mỹ Hằng |
|
Lò Việt Hưng |
Bản án số 16/2025/HS-ST ngày 10/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 16/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Đỗ Đức D 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù.
