|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH HÓA TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 16/2025/HS-ST Ngày 09 - 4 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH HÓA TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triến
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Huỳnh Anh Huy; Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí; Nơi cư trú: Xã Thủy Tây, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.
Ông Nguyễn Đức Việt; Nghề nghiệp: Giáo viên; Nơi công tác: Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Thạnh Hóa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ánh Nguyệt - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Lê Đức Thiện - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 58/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Phan Thanh Phú (Hiều)
Phan Thanh Phú (Hiều), sinh ngày 07 tháng 10 năm 2008 tại Long An; Nơi cư trú: Ấp T3, xã Thuận Bình, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Phụ giúp gia đình; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Văn Tỷ, sinh năm 1983 và bà Lê Thị Hằng, sinh năm 1991; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo tại ngoại (Có mặt).
Người đại diện hợp pháp: Ông Phan Văn Tỷ, sinh năm 1983 và bà Lê Thị Hằng, sinh năm 1991; Cùng nơi cư trú: Ấp T3, xã Thuận Bình, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An (Có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Anh Thư – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Long An (Có mặt).
– Bị hại: Bà Trần Thị Thu Thảo, sinh năm 2002; Địa chỉ: Ấp Vàm Lớn, xã Thuận Nghĩa Hòa, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An (Có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
– Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Ông Phan Văn Tỵ, sinh năm 1983 và bà Lê Thị Hằng, sinh năm 1991; Địa chỉ: Ấp T3, xã Thuận Bình, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An (Có mặt).
+ Ông Lê Văn Tỵ, sinh năm 2001; Địa chỉ: Ấp Vàm Lớn, xã Thuận Nghĩa Hòa, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An (Có mặt).
+ Bà Lưu Thị Thúy Trang, sinh năm 1987; Địa chỉ: Khu phố 3, thị trấn Thạnh Hóa, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An (Có mặt).
+ Bà Lê Thị Bích, sinh năm 1990; Ấp Đồn A, xã Thuận Bình, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An (Vắng mặt).
+ Bà Trần Thị Kim Quyền, sinh năm 2002; Địa chỉ: Ấp T3, xã Thuận Bình, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An (Có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phan Thanh Phú do biết vợ chồng ông Lê Văn Tỵ, bà Trần Thị Thu Thảo mới tổ chức đám cưới nên nghỉ Tỵ và Thảo có tài sản. Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 19/7/2024, Phú điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Future màu đỏ - đen mang biển số 62F1-129.44 đi từ nhà ấp T3, xã Thuận Bình, huyện Thạnh Hóa đến nhà dì ruột là bà Lê Thị Tư (mẹ ruột Tỵ) ở ấp Vàm Lớn, xã Thuận Nghĩa Hòa, huyện Thạnh Hóa với mục đích lấy trộm tài sản. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, lợi dụng lúc người nhà bà Tư đi vắng nên Phú lén lút mở cửa, đi vào phòng ngủ của vợ chồng Lê Văn Tỵ và Trần Thị Thu Thảo đến vị trí bàn trang điểm; Phú kéo ngăn tủ đầu tiên, bên trái thì phát hiện có 01 bịch nylon màu trắng, không có quai xách, bên trong đựng 3.957 lượng vàng 24Kr các loại gồm: 03 chiếc kiềng Bắc 09 chỉ, 05 vòng đeo tay 12 chỉ, 01 dây chuyền bông mai 05 chỉ, 01 nhẫn bông mai 03 chỉ, 02 nhẫn kiểu 2.07 chỉ và 09 nhẫn trơn 8.5 chỉ. Phú lấy bịch nylon đựng vàng bỏ vào bên trong áo khoác màu xanh rồi đi ra bỏ vào trong cốp xe. Phú điều khiển xe môtô nêu trên mang số vàng trộm được đến tiệm vàng Kim Tiến 2 thuộc khu phố 3, thị trấn Thạnh Hóa, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An bán được số tiền 289.237.000 đồng. Sau đó, Phú chạy xe về tiệm tạp hóa của bà Lê Thị Bích ở ấp Đồn A, xã Thuận Bình, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An để nạp số tiền 10.000.000 đồng vào tài khoản Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân Đội của Phú (đã sử dụng để nhập hàng nước hoa về bán). Số tiền còn lại bỏ vào bịch nylon màu đen, cất vào thùng giấy đựng nước hoa để trong phòng ngủ. Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 20/7/2024, Phú lấy tiền bỏ vào túi đeo chéo màu xám, điều khiển xe môtô chở Trần Thị Kim Quyền đến cửa hàng điện thoại di động Triệu Phát thuộc thu phố 3, thị trấn Thạnh Hóa để mua 01 điện thoại Iphone 15 Pro max, 01 bộ sạc điện thoại và 01 sim điện thoại mạng mobiphone với tổng số tiền là 28.600.000 đồng rồi quay về nhà. Bên cạnh đó, Phú còn sử dụng số tiền 2.837.000 đồng vào việc tiêu xài cá nhân. Số tiền còn lại 247.800.000 đồng thì Phú bỏ trong túi nylon màu đen, mang đi cất giấu trong sọt nhựa để ở khu vực sàn nước tại nhà bếp, bên trong nhà bỏ hoang của Nguyễn Văn Luyến Nhỏ thuộc ấp T3, xã Thuận Bình (cách nhà Phú khoảng 100 mét). Ngày 21/7/2024, bà Trần Thị Thu Thảo phát hiện tài sản bị mất trộm nên trình báo Công an. Qua điều tra, Phú thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và chỉ nơi cất giấu số tiền 247.800.000 đồng.
Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 1331/KL-HĐĐGTS ngày 11/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thạnh Hóa kết luận: 03 chiếc kiềng Bắc (09 chỉ, trọng lượng 03 chỉ/chiếc) có giá trị 65.556.000 đồng; 05 vòng đeo tay (12 chỉ) có giá trị 87.408.000 đồng; 01 dây chuyền bông mai (05 chỉ) có giá trị 36.420.000 đồng; 01 nhẫn bông mai (03 chỉ) có giá trị 21.852.000 đồng; 02 nhẫn kiểu (2.07 chỉ) có giá trị 15.077.880 đồng; 09 nhẫn trơn (8.5 chỉ) có giá trị 61.914.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 288.227.880 đồng.
Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động XIAOMI Redmi 12 (đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động Iphone 15Promax, số seri: MOMK3QQ39D, Imei: 358606716004413, màu xám (đã qua sử dụng); 01 sim điện thoại mobiphone số 0794.493.xxx (đã qua sử dụng); 01 bộ sạc điện thoại Iphone (đã qua sử dụng); 01 áo khoác vải dài tay màu xanh đậm (đã qua sử dụng); 01 xe môtô Honda Future màu đỏ - đen mang biển số 62F1-129.44 (đã qua sử dụng) và số tiền 247.800.000 đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạnh Hóa ra Quyết định xử lý vật chứng số 302/QĐ-ĐTTH ngày 01/8/2024: Trả cho ông Phan Văn Tỷ 01 xe môtô Honda Future màu đỏ - đen, biển số 62F1-129.44 (cũ đã qua sử dụng) và trả cho Trần Thị Thu Thảo số tiền 247.800.000 đồng.
Nhập kho vật chứng và chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạnh Hóa chờ xử lý: 01 điện thoại di động XIAOMI Redmi 12, số seri: 0d45210e7d25; 01 điện thoại di động Iphone 15Promax, màu xám, số seri: MOMK3QQ39D, Imei: 358606716004413; 01 sim điện thoại mobiphone số 0794.493.xxx; 01 bộ sạc điện thoại Iphone, màu trắng, loại 20W; 01 áo khoác vải dài tay màu xanh đậm. Tất cả đã qua sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Phú và gia đình bị cáo đã bồi thường thêm cho ông Lê Văn Tỵ, bà Trần Thị Thu Thảo (là người đại diện theo ủy quyền của ông Tỵ) số tiền 41.437.000 đồng. Ông Tỵ, bà Thảo không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.
Cáo trạng số: 55/CT-VKSTH ngày 29 tháng 11 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Hóa đã truy tố bị cáo Phan Thanh Phú về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự.
*Tại phiên tòa:
(1) Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất của hành vi và hậu quả xảy ra đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Thanh Phú về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 32; Điều 38; Điều 50; Điều 91; Điều 98; Điều 101 và Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Phần cơ quan điều tra đã xử lý xong không có yêu cầu xem xét lại nên không xem xét.
- Đề nghị trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động XIAOMI Redmi 12, số seri: 0d45210e7d25 do đây là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội. 01 điện thoại di động Iphone 15Promax, màu xám, số seri: MOMK3QQ39D, Imei: 358606716004413; 01 sim điện thoại mobiphone số 0794.493.xxx và 01 bộ sạc điện thoại Iphone, màu trắng, loại 20W; do bị cáo, gia đình đã bồi thường cho bà Thảo, ông Tỵ.
- Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 áo khoác vải dài tay màu xanh đậm do bị cáo sử dụng làm công cụ phạm tội (Cất giấu vàng).
Đối với hành vi của Lưu Thị Thúy Trang là chủ tiệm vàng Kim Tiến 2 đã mua vàng của Phan Thanh Phú: Bà Trang không biết số vàng trên do Phú phạm tội mà có nên không xử lý trách nhiệm hình sự về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Đối với hành vi của ông Phan Văn Tỷ là chủ xe mô tô nhãn hiệu Honda Future màu đỏ - đen mang biển số 62F1-129.44: Ông Tỷ không biết Phan Thanh Phú lấy xe đi thực hiện hành vi phạm tội nên không xem xét xử lý.
Đối với hành vi của Trần Thị Kim Quyền là người đi chung với Phú mua 01 điện thoại Iphone 15 Pro max, 01 bộ sạc điện thoại và 01 sim điện thoại mạng mobiphone và bà Lê Thị Bích nạp tiền vào tài khoản của Phú: Quyền và Bích không biết tiền trên do phạm tội mà có nên không xem xét xử lý.
(2) Về trách nhiệm dân sự:
Người bị hại - bà Trần Thị Thu Thảo: Vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong lời khai trình bày đã nhận lại giá trị của các tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường tiếp theo, yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo và là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án - ông Phan Văn Tỷ, bà Lê Thị Hằng thống nhất trình bày tại phiên tòa: Ông Tỷ, bà Hằng thống nhất với toàn bộ nội dung do bị cáo đã trình bày tại phiên tòa. Ông Tỷ, bà Hằng xác định số tiền 41.437.000 đồng là do ông bà bồi thường cho ông Tỵ, bà Thảo và ông bà không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền này cho ông bà.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án – ông Lê Văn Tỵ trình bày tại phiên tòa: Ông và bà Thảo (vợ của ông Tỵ) đã nhận lại giá trị của số vàng bị trộm là số tiền 289.237.000 đồng. Ông Tỵ không yêu cầu bị cáo phải bồi thường tiếp theo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án – bà Lưu Thị Thúy Trang trình bày tại phiên tòa: Bà Trang không biết số vàng bà mua từ bị cáo là tài sản do bị cáo phạm tội mà có, bà không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án - bà Lê Thị Bích: Vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong lời khai trình bày thì bà không biết bị cáo trộm cắp tài sản để lấy tiền nạp vào tài khoản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án - Trần Thị Kim Quyền: Vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong lời khai trình bày thì bà không biết việc bị cáo trộm cắp tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.
(3) Bị cáo thừa nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát đã nêu, không có ý kiến tranh luận.
Người bào chữa cho bị cáo - bà Nguyễn Thị Anh Thư trình bày tại phiên tòa: Bà thống nhất với quan điểm luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay thì bị cáo đã khai, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người dưới 18 tuổi, chưa phát triển đầy đủ về nhân cách và còn hạn chế hiểu biết về pháp luật. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; đã bồi thường cho ông Tỵ, bà Thảo; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là con duy nhất của gia đình; được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Đề nghị áp dụng các quy định đối với người dưới 18 tuổi xử phạt bị cáo với mức hình phạt dưới khung thấp nhất của khung hình phạt.
Nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án: Bị cáo biết việc làm của mình là sai trái, ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại, tố cáo hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về nội dung:
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 19/7/2024, tại nhà bà Lê Thị Tư thuộc ấp Vàm Lớn, xã Thuận Nghĩa Hòa, huyện Thạnh Hóa; Phan Thanh Phú lợi dụng sự sở hở trong quản lý tài sản, lợi dụng lúc người nhà bà Tư đi vắng nên Phú lén lút mở cửa, đi vào phòng ngủ của vợ chồng Lê Văn Tỵ và Trần Thị Thu Thảo. Khi đến vị trí bàn trang điểm, Phú kéo ngăn tủ đầu tiên, bên trái thì phát hiện có 01 bịch nylon màu trắng, không có quai xách, bên trong chứa 3.957 lượng vàng 24Kr các loại gồm: 03 chiếc kiềng Bắc 09 chỉ, 05 vòng đeo tay 12 chỉ, 01 dây chuyền bông mai 05 chỉ, 01 nhẫn bông mai 03 chỉ, 02 nhẫn kiểu 2.07 chỉ và 09 nhẫn trơn 8.5 chỉ. Phú lấy bịch nylon đựng vàng bỏ vào bên trong áo khoác màu xanh rồi đi ra bỏ vào trong cốp xe. Phú điều khiển xe môtô mang số vàng trộm được đến tiệm vàng Kim Tiến 2 thuộc khu phố 3, thị trấn Thạnh Hóa, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An bán được số tiền 289.237.000 đồng. Qua định giá tài sản số vàng trộm được với tổng giá trị 288.227.880 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo Phan Thanh Phú đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các lời khai của bị hại; người làm chứng; người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan đến vụ án; biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm lúc 11 giờ 30 phút ngày 21/7/2024 (Công an xã Thuận Nghĩa Hòa); biên bản tạm giử tài sản, đồ vật, tài liệu lúc 12 giờ 17 phút ngày 21/7/2024; phiếu chuyển nguồn tin báo về tội phạm ngày 21/7/2024; biên bản xác định vị trí cất tang vật lúc 22 giờ 25 phút ngày 21/7/2024; biên bản xác định hiện trường và sơ đồ hiện trường lúc 22 giờ 25 phút ngày 21/7/2024; bản ảnh hiện trường (09 ảnh) do Công an huyện Thạnh Hóa lập; Kết luận định giá tài sản số 1331/KL-HĐĐGTS ngày 11/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thạnh Hóa và cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Trên cơ sở đó đã có đủ bằng chứng để kết luận rằng bị cáo Phan Thanh Phú vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Như vậy cáo trạng số 55/CT-VKSTH ngày 29 tháng 11 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Hóa đã truy tố bị cáo Phan Thanh Phú với tội danh và điều luật nêu trên là có cơ sở đúng theo quy định của pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo Phan Thanh Phú là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo một công dân có đầy đủ lý trí để nhận thức được rằng tài sản hợp pháp của mọi tổ chức và cá nhân được pháp luật bảo vệ, nếu người nào cố tình chiếm đoạt sẽ bị pháp luật xử lý nhưng bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý, mục đích của bị cáo là chiếm đoạt tài sản của bị hại để tiêu xài cho cá nhân. Số tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị 288.227.880 đồng (Trên 200.000.000 đồng) là tình tiết định khung để xử lý bị cáo theo điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Xét thấy bị cáo là người chưa thành niên nên cần áp dụng các quy định tại Điều 90, 91, 98, 101 Bộ luật hình sự và vận dụng Luật Tư pháp người chưa thành niên. Do bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo. Hành vi của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn; bản thân bị cáo không có việc làm ổn định; bị hại có đơn bãi nại đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do đó khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về khung hình phạt đối với bị cáo Phan Thanh Phú là có cơ sở theo quy định pháp luật.
[6] Xét đề nghị của người bào chữa cho bị cáo về các tình tiết giảm nhẹ là có cơ sở.
[7] Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Phần cơ quan điều tra đã xử lý xong không có yêu cầu xem xét lại nên không xem xét.
Đối với 01 điện thoại di động XIAOMI Redmi 12, số seri: 0d45210e7d25 là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội và 01 điện thoại di động Iphone 15Promax, màu xám, số seri: MOMK3QQ39D, Imei: 358606716004413; 01 sim điện thoại mobiphone số 0794.493.xxx; 01 bộ sạc điện thoại Iphone, màu trắng, loại 20W thì đây là các tài sản do bị cáo sử dụng nguồn tiền thu được từ việc bán các tài sản trộm cắp mà có để mua nhưng bị cáo, gia đình bị cáo đã bồi thường xong cho bà Thảo, ông Tỵ và bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo thống nhất đề nghị được nhận lại nên không cần phải tịch thu mà trả lại cho bị cáo.
Đối với 01 áo khoác vải dài tay màu xanh đậm là tài sản của bị cáo sử dụng làm công cụ phạm tội (Cất giấu vàng), hiện tại không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Về án phí: Bị cáo Phan Thanh Phú phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Phan Thanh Phú phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 32; Điều 38; Điều 50; Điều 90; Điều 91; Điều 98; Điều 101; Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Các Điều 299, 326, 327 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Phan Thanh Phú 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án phạt tù.
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy: 01 áo khoác vải dài tay màu xanh đậm.
Trả cho bị cáo: 01 điện thoại di động XIAOMI Redmi 12, số seri: 0d45210e7d25; 01 điện thoại di động Iphone 15Promax, màu xám, số seri: MOMK3QQ39D, Imei: 358606716004413; 01 sim điện thoại mobiphone số 0794.493.xxx; 01 bộ sạc điện thoại Iphone, màu trắng, loại 20W.
Vật chứng trên hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạnh Hoá quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 40/QĐ-VKS ngày 29/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Hóa.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Phan Thanh Phú phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà Nước.
4. Bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị cáo; người bào chữa cho bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chỉ có quyền kháng cáo trong phạm vi có liên quan.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Triến |
Bản án số 16/2025/HS-ST ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH HÓA TỈNH LONG AN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 16/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH HÓA TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
