|
TAND HUYỆN THƯỜNG XUÂN TỈNH THANH HOÁ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 16/2025/HS-ST Ngày 08 tháng 4 năm 2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG XUÂN, TỈNH THANH HOÁ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Ông Lê Sỹ H |
| Các Hội thẩm nhân dân: | 1. Ông Lê Quang T. |
| 2. Ông Lê Xuân T. |
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Á - Thư ký của TAND huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn N - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2025/TLST- HS ngày 18/3/2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST- HS ngày 24/3/2025 đối với các bị cáo:
- Mai Nhữ M(tên gọi khác: không); sinh năm 1998 tại: xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Trú tại: Thôn Y, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Mai Nhữ B và bà Vũ Thị T; Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực T, PC11 - Trại tạm giam Công an tỉnh T.
(Có mặt tại phiên tòa).
- Phan Văn H(tên gọi khác: không); sinh năm 1986 tại: xã P, TP., tỉnh Hưng Yên; Trú tại: Đ, thôn T, xã P, TP., tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Văn H1(đã chết) và bà Bùi Thị Đ; Vợ là Mai Thị H2, sinh năm 1991 và 03 con; con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2022.
Tiền án; tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực T, PC11 - Trại tạm giam Công an tỉnh T.
(Có mặt tại phiên tòa).
3. Những người bị hại:
- Anh Nguyễn Khắc Đ1 – sinh năm 1991 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện T, tỉnh Hà Tỉnh.
- Anh Trần Công L – sinh năm 1986(vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội.
- Anh Vũ Văn K – sinh năm 1987(vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn H, xã L, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Anh Đỗ Văn S – sinh năm 1977(vắng mặt)
Địa chỉ: khu phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa
- Anh Lê Đình P – sinh năm 1979(vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện D, tỉnh Nghệ An.
- Anh Phùng Văn T1 – sinh năm 1982(vắng mặt).
Địa chỉ: khu phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa
- Anh Đỗ Văn B1 – sinh năm 1975(vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn Đ, xã B(nay là thôn P, xã Q), huyện T, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 20/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T tiếp nhận đơn tố giác tội phạm của anh Phùng Văn T1 sinh năm 1982, trú tại khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa với nội dung:
Vào ngày 03/6/2024, anh Phùng Văn T1 đặt mua một chiếc xe máy Honda Wave trên trang Facebook "Mua bán xe máy nhập khẩu giá rẻ toàn quốc – Đ” với giá 13.000.000 đồng. Qua nói chuyện, người nam sử dụng thuê bao 0963604631 và tài khoản Zalo “Nguyễn Đức T2” (đăng ký bởi số 0963604631) tự xưng là T2 – chủ cửa hàng nhắn tin, gọi điện tư vấn cho anh T1 về việc mua bán xe. Cùng ngày, anh T1 đến Ngân hàng A chi nhánh T7 chuyển số tiền 3.000.000 đồng đến tài khoản ngân hàng B3 số “5050692071” – Chủ tài khoản Nguyễn Đức T2 để đặt cọc mua xe máy. Sau khi nhận được tiền đặt cọc, có người nam (giọng nói khác) tự xưng là cán bộ CSGT Thanh Hoá sử dụng thuê bao di động “0357695302” gọi điện đến thuê bao “0899640717” của anh T1 yêu cầu làm thủ tục đăng ký xe và đề nghị chuyển thêm số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) đến tài khoản ngân hàng Nguyễn Đức T2 (nêu trên) để làm giấy tờ xe thì anh T1 đồng ý. Đến ngày 04/6/2024, anh T1 sử dụng tài khoản ngân hàng V1 số "976499567" chuyển số tiền 5.000.000 đồng đến tài khoản ngân hàng B3 số “5050692071” để làm giấy tờ xe theo yêu cầu. Đến ngày 05/6/2024, Zalo Nguyễn Đức T2 gửi cho anh T1 một ảnh chụp hình ảnh đăng ký xe máy Honda Wave, biển số “36M1-37956", cấp ngày: 04/6/2024, nơi cấp: Công an huyện T và yêu cầu anh T1 chuyển thêm 5.000.000 đồng nữa cho T2 để nhận xe thì anh T1 nghi ngờ và không đồng ý chuyển tiền, sau đó bị các đối tượng chặn liên lạc để chiếm đoạt số tiền 8.000.000 đồng (tám triệu đồng).
Tiến hành xác minh tại ngân hàng B3, xác định Nguyễn Đức T2, sinh năm 2007, trú tại: thôn Y, xã N, huyện N là người mở tài khoản từ ngày 28/07/2023. Qua làm việc với Nguyễn Đức T2, T2 khai nhận được mở tài khoản ngân hàng này và bán cho một người không quen biết trên Telegram vào ngày 28/07/2023. Phối hợp với nhà mạng viễn thông, xác định vị trí cột sóng xuất hiện thường xuyên của thuê bao 0963604631 có toạ độ tại thôn Y, xã N và vị trí cột sóng của thuê bao 0357695302 có toạ độ tại thôn T, xã P, TP ..
Tiến hành sao kê tài khoản số 5050692071 của Nguyễn Đức T2 tại B3 phát hiện: Vào các ngày 05/10/2023; ngày 31/10/2023 và ngày 18/02/2024, tài khoản B3 Nguyễn Đức T2 chuyển tiền đến tài khoản B3 số 5050713918 tên “Mai Thi T3” của Mai Thị T4, sinh năm 2001, trú tại: thôn Y, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa số tiền 1.800.000 đồng với các nội dung lần lượt là “ck tien quan ao"; "ck tien giay” và “chuyen tien giay". Triệu tập làm việc với Mai Thị T4, T4 khai nhận số tiền trên là do Mai Nhữ M, sinh năm 1998, trú tại: thôn Y, xã N, huyện N (anh trai T4) nhờ người khác chuyển tiền cho T4 để đổi tiền mặt, đồng thời T4 không biết gì về nguồn gốc số tiền này. Xác minh nhân thân, mối quan hệ của Mai Nhữ M, được biết M còn có mối quan hệ thân thiết với anh rể (kết hôn với chị họ) tên Phan Văn H, sinh năm 1986, trú tại: đội 6 thôn T, xã P, TP .. Vị trí nơi ở của Mai Nhữ M và Phan Văn H phù hợp với các địa điểm thường xuyên xuất hiện của các thuê bao di động 0963604631 và 0357695302 có liên quan đến hoạt động lừa đảo, chiếm đoạt tài sản.
Căn cứ các tài liệu thu thập được, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã triệu tập Mai Nhữ M và Phan Văn H lên trụ sở Công an để làm việc. Ngày 21/12/2024, Phan Văn H và Mai Nhữ M đã có đơn xin đầu thú, khai nhận có hành vi sử dụng các trang mạng xã hội Facebook, Z “ảo” Lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng hình thức bán xe máy nhập khẩu giá rẻ để chiếm đoạt tiền. Cơ quan điều tra đã tiến hành ghi lời khai, khám xét khẩn cấp chỗ ở và vùng phụ cận đối với Mai Nhữ M và Phan Văn H, đồng thời tạm giữ hình sự M và H để phục vụ điều tra.
Tại Cơ quan điều tra Mai Nhữ M và Phan Văn H đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của M và H phù hợp với lời khai của các bị hại và các chứng cứ khác được thu thập, thể hiện:
Khoảng tháng 07/2023, do không có công ăn việc làm ổn định, nhận thấy việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản diễn ra thường xuyên trên mạng internet, dễ thực hiện mà khó bị phát hiện, Mai Nhữ M tìm hiểu cách lừa đảo trên mạng, sau đó được các đối tượng khác rủ tham gia vào một hội nhóm lừa đảo trên Telegram có tên “Mua bán xe máy nhập khẩu toàn quốc giá rẻ - Đ”. Trong nhóm T5 có khoảng 20 thành viên, trưởng nhóm sử dụng tài khoản tên “Viết” (không rõ nhân thân, lai lịch, mối quan hệ cụ thể). Qua việc tham gia hội nhóm, M biết được đây là hội nhóm Lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng hình thức đăng bài quảng cáo trên mạng xã hội về việc bán xe máy nhập khẩu giá rẻ, những người tham gia lừa đảo sẽ tìm kiếm, lựa chọn “khách hàng” để tư vấn, yêu cầu chuyển tiền rồi chiếm đoạt. Bên cạnh việc có người giả mạo là chủ cửa hàng bán xe thì sẽ có thêm người giả mạo Công an hoặc giả mạo bộ phận chuyển phát, giao hàng để chiếm đoạt thêm tiền. Nhận thấy, khi có người cùng tham gia lừa đảo thì sẽ tăng độ uy tín và lừa được nhiều tiền hơn nên M rủ Phan Văn H cùng tham gia thì Hiệp đồng Ý.
Sau khi tham gia vào nhóm T5 (nêu trên), M và H đều được nhận tên đăng nhập và mật khẩu của tài khoản Facebook “Mua bán xe máy nhập khẩu toàn quốc giá rẻ - Đ” để hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản (trang Facebook và mật khẩu được công khai cho các thành viên trong nhóm cùng sử dụng).
Bên cạnh việc cùng tham gia vào hội nhóm trên Telegram, cùng sử dụng tài khoản Facebook “Mua bán xe máy nhập khẩu toàn quốc giá rẻ - Đ” với những người khác thì M và H cùng sử dụng tài khoản Zalo “Nguyễn Đức T2” đăng ký bởi số điện thoại 0982.263.xxx (được dùng từ khoảng tháng 08/2023 đến tháng 04/2024) và số điện thoại 0963.604.xxx (được dùng từ khoảng tháng 04/2024 đến tháng 06/2024), cả hai thuê bao này được M đặt mua trên T5 và do M là người trực tiếp quản lý, sử dụng. Phan Văn H mua sim rác đối với thuê bao số 0962527161 và thuê bao số 0357695302 để sử dụng tư vấn hoặc đóng giả Cảnh sát giao thông lừa các khách hàng có nhu cầu mua xe.
Khi có khách hàng nhắn tin đến trang Facebook (nêu trên) thì M hoặc H sẽ chủ động liên hệ với khách hàng thông qua Z1 Nguyễn Đức T2 để tư vấn, đồng thời nhắn tin lên hội nhóm trên Telegram thông báo việc khách hàng có tên, địa chỉ, số điện thoại này đang được tư vấn và “chăm sóc”, để những người khác không tư vấn nữa, tránh gây phiền toái, khó chịu sẽ bị mất “khách”. Để thực hiện công việc hiệu quả, M và H bàn bạc, thống nhất với nhau và phân công nhiệm vụ cụ thể như sau:
Cả hai cùng sử dụng tài khoản Zalo “Nguyễn Đức T2”, thường xuyên đăng tài bài viết kèm theo hình ảnh được cắt ghép, chỉnh sửa hoặc tải (download) trên mạng để thu hút người theo dõi, quan tâm và tin tưởng về hoạt động của tài khoản Zalo “ảo” này. Sau khi kết bạn Zalo với các bị hại, M hoặc H sẽ sử dụng Zalo “Nguyễn Đức T2” gửi các thông tin, hình ảnh về Cửa hàng mua bán xe máy nhập khẩu giá rẻ Đ – địa chỉ: Đ Hòa Bình, Phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh (hình ảnh cắt ghép, chỉnh sửa); hình ảnh và giá bán các loại xe máy mà người mua đang quan tâm (gồm xe có đầy đủ giấy tờ và xe không có giấy tờ); hình ảnh căn cước công dân số [...] – Nguyễn Đức T2 (hình ảnh cắt ghép, chỉnh sửa) để người mua tin tưởng cửa hàng và chủ cửa hàng là có thật. Sau đó, M yêu cầu người mua chuyển tiền đặt cọc từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng (tuỳ thuộc vào giá trị của xe máy mà người mua muốn đặt mua). Sau khi nhận được tiền cọc, H sử dụng một thuê bao khác hoặc tài khoản Zalo giả danh cán bộ Phòng Cảnh sát giao thông, gọi điện cho người mua để yêu cầu người mua chuyển thêm từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng để làm thủ tục đăng ký xe, bấm biển số. Khi người mua chuyển thêm tiền, M tiếp tục nhắn tin Zalo gửi hình ảnh chụp đăng ký xe đã làm xong (hình ảnh photoshop) cho người mua và yêu cầu người mua chuyển hết số tiền còn lại để được nhận xe. Nếu người mua tiếp tục chuyển tiền hoặc không đồng ý chuyển thêm tiền ở bất kỳ giai đoạn nào, M và H sẽ chặn mọi liên lạc để chiếm đoạt số tiền đã lừa được. Số tiền này sẽ được chuyển vào tài khoản ngân hàng B3 đứng tên Nguyễn Đức T2 do người tên V cung cấp. Sau khi kết thúc việc lừa đảo, M và H được nhận 50% số tiền các bị hại đã chuyển đến tài khoản B3 (nêu trên) và được quy đổi thành tiền thẻ game (hoặc thẻ cào điện thoại) cho M và H tuỳ ý sử dụng. Số tiền sau mỗi lần lừa đảo thành công, M và H thống nhất chia đều cho nhau cùng sử dụng.
Với cùng thủ đoạn như trên, từ khoảng tháng 08/2023 đến tháng 06/2024, M và H đã cùng nhau đã lừa đảo chiếm đoạt tài sản của nhiều người khác nhau gồm:
- Người thứ nhất: Anh Nguyễn Khắc Đ1, sinh năm 1991, trú tại thôn L, xã L, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh.
Vào ngày 07/11/2023, anh Đ1 bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng), trong đó 1.000.000 đồng (một triệu đồng) là số tiền anh Đ1 chuyển để đặt cọc mua xe Honda Dream, 4.000.000 (bốn triệu đồng) là số tiền anh Đ1 chuyển để thanh toán hết chi phí mua xe (đều được chuyển đi từ tài khoản ngân hàng V2 số [...] của anh Đ1).
- Người thứ hai: Anh Đỗ Văn B1, sinh năm 1975, trú tại thôn Đ, xã B (nay là thôn P, xã Q), huyện T, thành phố Hà Nội.
Từ ngày 18/01/2024 đến ngày 22/01/2024, anh B1 bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản số tiền 17.000.000 đồng (mười bảy triệu đồng), trong đó 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) là số tiền mà anh B1 đặt cọc mua xe Honda Dream (được chuyển đi từ tài khoản ngân hàng A của anh B1); 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) là số tiền làm giấy tờ, biển số xe (được chuyển đi từ tài khoản ngân hàng V1 của chị Nguyễn Thị T6, sinh năm 1978, trú tại thôn S, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội là chủ của hàng điện thoại, dịch vụ chuyển tiền); 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) là tiền chi phí vận chuyển xe từ Quảng Ninh đến nhà anh B1 (được chuyển đi từ tài khoản ngân hàng V1 của Nguyễn Kiêm C, sinh năm 1986, trú tại thôn S, xã Q, huyện T, thành phố Hà Nội - là chủ cửa hàng điện thoại, dịch vụ chuyển tiền và chuyển bằng tài khoản A của anh B1) và 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng) là tiền thanh toán hết các khoản chi phí mua xe (được chuyển đi từ tài khoản ngân hàng V1 của Nguyễn Kiêm C).
- Người thứ ba: Anh Trần Công L, sinh năm 1986, trú tại thôn A, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội.
Ngày 29/01/2024, anh L bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản số tiền 15.000.000 đồng, trong đó: 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) là tiền đặt cọc mua xe; 4.500.000 đồng (bốn triệu năm trăm nghìn đồng) là tiền phí làm giấy tờ, biển số xe và 7.500.000 đồng (bảy triệu năm trăm nghìn đồng) là tiền thanh toán mua xe (đều được chuyển đi từ tài khoản ngân hàng B3 của anh L).
- Người thứ tư: Anh Vũ Văn K, sinh năm 1987, trú tại thôn H, xã L, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Ngày 09/3/2024, anh K bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) – là số tiền anh K đặt cọc mua xe Honda Dream (được chuyển đi từ tài khoản ngân hàng H4 của anh K).
- Người thứ năm: Anh Đỗ Văn S, sinh năm 1977, trú tại Khu phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Ngày 15/3/2024, anh S bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản số tiền 3.000.000 đồng – là số tiền anh S đặt cọc mua xe máy Honda Wave (được chuyển đi từ tài khoản ngân hàng A của anh S).
- Người thứ sáu: Anh Lê Đình P, sinh năm 1979, trú tại thôn H, xã H, huyện D, tỉnh Nghệ An.
Ngày 15/4/2024, anh P bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng), trong đó 1.000.000 đồng (một triệu đồng) là số tiền anh P đặt cọc mua xe và 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) là tiền phí làm giấy tờ, biển số xe (được chuyển đi từ tài khoản ngân hàng V3 của anh P).
- Người thứ bảy: Anh Phùng Văn T1, sinh năm 1982, trú tại Khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Từ ngày 03/6/2024 đến ngày 04/6/2024, anh T1 bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản số tiền 8.000.000 đồng (tám triệu đồng), trong đó 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) là số tiền anh T1 đặt cọc mua xe máy Honda Wave (chuyển tiền tại Ngân hàng A) và 5.000.000 đồng là số tiền làm giấy tờ, biển số xe (được chuyển đi từ tài khoản ngân hàng V1 số [...] của anh Lê Văn B2 - bạn của anh T1).
Ngày 08/01/2025, Cơ quan CSĐT Công an huyện T ra quyết định Trưng cầu giám định âm thanh, kỹ thuật số và điện tử số: 03/QĐ-ĐCSKT-MT đối với 01 (một) điện thoại di động của Mai Nhữ M, 01 (một) điện thoại di động của Phan Văn H và các file ghi âm do bị hại cung cấp nghi vấn là giọng nói của Mai Nhữ M và giọng nói của Phan Văn H tại V4 Bộ C1.
Ngày 12/02/2025, V4 Bộ C1 có bản Kết luận giám định số: 283/KL-KTHS kèm theo Phụ lục gồm các tin nhắn, cuộc gọi, hình ảnh được trích xuất, phục hồi từ các điện thoại và sim điện thoại gửi giám định và kết luận các tiếng nói gửi giám định là của Mai Nhữ M và Phan Văn H
Về thu giữ và xử lý vật chứng:
Trong quá trình điều tra, anh Phùng Văn T1, sinh năm 1982, trú tại Khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa tự nguyện giao nộp:
- 01 đĩa DVD, nhãn hiệu Maxell, màu vàng, dung lượng 4.7 GB, bên trong có chứa:
- 03 (ba) file âm thanh là bản ghi âm cuộc hội thoại giữa anh T1 và đối tượng giả danh cán bộ cảnh sát giao thông (xưng “giao thông ở thành phố”) thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đặc điểm: 01 (một) file âm thanh tên: "FILE_20240629_201132_0357695302-2406050922.amr", dài 01 phút 43 giây, dung lượng 166 KB; 01 (một) file âm thanh tên: "FILE_20240629_201132_0357695302-2406050914.amr", dài 01 phút 00 giây, dung lượng 97.1 KB; 01 (một) file âm thanh tên: "FILE_20240629_201132_0357695302-2406031504.amr", dài 01 phút 55 giây, dung lượng 185 KB.
- 02 (hai) file âm thanh là bản ghi âm cuộc hội thoại giữa anh T1 và đối tượng giả danh chủ cửa hàng X (xưng tên “Thành”) thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đặc điểm: 01 (một) file âm thanh tên: “FILE_20240629_201132_0963604631-2406031044.amr", dài 3 phút 00 giây, dung lượng 290.38 KB; 01 (một) file âm thanh tên: "FILE_20240629_201132_0963604631-2406050915.amr", dài 4 phút 15 giây, dung lượng 411.39 KB.
- 33 (ba mươi ba) ảnh chụp màn hình điện thoại di động liên quan đến trang Facebook "Mua bán xe máy nhập khẩu toàn quốc giá rẻ - Đ"
- Tiến hành khám xét nơi ở và vùng phụ cận đối với Mai Nhữ M tại thôn Y, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 21/12/2024.
- Tiền mặt: 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng).
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8, số sê-ri "C8PVXB4PJC6C", số imei "353001091068891”, màu đen, điện thoại đã qua sử dụng.
- Tiến hành khám xét nơi ở và vùng phụ cận đối với Phan Văn H tại thôn T, xã P, Tp., tỉnh Hưng Yên vào ngày 21/12/2024, thu giữ:
- Tiền mặt: 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng).
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 13C, màu xanh, số imeil: "864904079261481", số imei2: "864904079261499", điện thoại đã qua sử dụng, hiện đang lắp đặt sim thuê bao di động “0399893196".
2.3. Xử lý vật chứng
- Số tiền thu giữ trong khám xét tại nhà M là 40.000.000 đồng, tại nhà H là 50.000.000 đồng, qua xác minh xác định là tài sản hợp pháp của gia đình các bị can nên Cơ quan điều tra đã trả lại chủ sở hữu là bà Vũ Thị T và chị Mai Thị H2.
- Đối với:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8, số sê-ri “C8PVXB4PJC6C", số imei "353001091068891", màu đen, điện thoại đã qua sử dụng.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 13C, số imeil: "864904079261481", số imei2: "864904079261499”, màu xanh, điện thoại đã qua sử dụng, hiện đang lắp đặt sim thuê bao di động “0399893196".
Chuyển Chi cục THADS huyện T để xử lý theo quy định.
- Đối với: 01 (một) đĩa DVD chứa file ghi âm do Phùng Văn T1 cung cấp; 01 (một) đĩa DVD chứa file ghi âm của Mai Nhữ M tại Công an huyện T; 01 (một) đĩa DVD chứa file ghi âm của Phan Văn H tại Công an huyện T; 01 (một) đĩa DVD chứa file dữ liệu trích xuất, phục hồi liên quan đến Giám định điện thoại tại V4 Bộ C1, Cơ quan CSĐT Công an huyện T chuyển theo hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra, các bị cáo Mai Nhữ M và Phan Văn H đã tác động gia đình bồi thường cho các bị hại với tổng số tiền là 54.000.000 đồng ( gia đình Mai Nhữ M là 27.000.000 đồng; gia đình Phan Văn H là 27.000.000 đồng). Cơ quan điều ra đã trả lại cho người bị hại trong vụ án gồm: Nguyễn Khắc Đ1; Đỗ Văn B1; Trần Công L; Vũ Văn K; Đỗ Văn S; Lê Đình P và Phùng Văn T1.
Tình tiết khác của vụ án:
- Đối với 04 (bốn) thuê bao di động số 0982263438; 0962527161; 0963604631; 0357695302; các điện thoại di động gắn sim số 0982263438; 0962527161; 0963604631 và tài khoản Zalo Nguyễn Đức T2, do lo sợ bị công an phát hiện, từ tháng 06/2024 đến nay, Mai Nhữ M và Phan Văn H đã bàn bạc, thống nhất với nhau dừng việc Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, vứt bỏ hết các sim, điện thoại di động có liên quan, xoá tài khoản Zalo, T5, do đó không có căn cứ xác minh, truy tìm để mở rộng điều tra. Đối với điện thoại di động gắn sim số 0357695302 do Phan Văn H quản lý, sử dụng từ tháng 03/2024 đến tháng 04/2024, sau đó, H tiếp tục gắn thuê bao 0399893196 (chính chủ) để sử dụng, chiếc điện thoại này đã bị Cơ quan điều tra thu giữ trong khám xét và giám định kỹ thuật số điện tử tại V4 Bộ C1, tuy nhiên không thu được dữ liệu có liên quan đến vụ án.
- Đối với tài khoản Facebook "Mua bán xe máy nhập khẩu giá rẻ toàn quốc – Đ” thời điểm Cơ quan CSĐT Công an huyện T tiến hành xác minh, điều tra, phát hiện tài khoản không còn tồn tại, nên không khai thác thêm được các dữ liệu điện tử phục vụ điều tra, mở rộng.
- Đối với các tài khoản ngân hàng khác chuyển tiền đến tài khoản B3 Nguyễn Đức T2, không có căn cứ để xác định là bị hại, đối tượng hay người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan đến vụ án, đồng thời Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã thông báo bằng văn bản đến Cơ quan CSĐT Công an các địa phương toàn quốc, thông tin lên các trang mạng xã hội, các cơ quan thông tấn, báo chí, các ngân hàng để thu thập thông tin, tài liệu phục vụ xử lý tội phạm nhưng không nhận được thông tin, tài liệu phục vụ việc giải quyết vụ án, do là vụ án xảy ra trên không gian mạng trong thời gian dài, trên địa bàn cả nước nên việc xác định, truy tìm người và đối tượng có liên quan rất khó khăn, vì vậy, nếu phát sinh bị hại hoặc đối tượng có liên quan đến vụ án này, Cơ quan CSĐT Công an huyện T sẽ tiến hành trao đổi thông tin, phối hợp với các đơn vị để xử lý nghiêm theo quy định pháp luật.
- Đối với các tài khoản ngân hàng có giao dịch nhận tiền nhiều lần từ tài khoản B3 trong thời gian từ tháng 07/2023 đến tháng 07/2024, gồm tài khoản B3 (nhận tiền 17 lần) và B3 (nhận tiền 05 lần). Kết quả xác minh, xác định Nguyễn Đức T2, Phan Văn P1 và Mai An K1 bán các tài khoản ngân hàng nêu trên cho người khác sử dụng qua mạng xã hội Telegram từ trước tháng 07/2023, đến nay đã hết thời hiệu xử lý vi phạm hành chính. Mặc khác, dữ liệu điện tử (tin nhắn, cuộc gọi,...), thông tin, tài liệu liên quan đến việc mua bán tài khoản ngân hàng không còn, do đó, không có căn cứ để xác định đối tượng đã mua, quản lý, sử dụng các tài khoản ngân hàng này nên không có căn cứ đề nghị xử lý.
- Đối với người sử dụng tài khoản Telegram tên “Viết” hướng dẫn Mai Nhữ M và Phan Văn H hoạt động lừa đảo, nghi vấn quản lý, sử dụng tài khoản ngân hàng B3, tuy nhiên qua khai thác dữ liệu điện thoại của M và H, đồng thời kiểm tra sao kê tài khoản ngân hàng và tiến hành các biện pháp điều tra, xác minh khác nhưng không xác định được thông tin đối tượng nên không có căn cứ để xử lý.
Tại bản cáo trạng số 18/CT-VKSTX ngày 17/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố các bị cáo Mai Nhữ M, Phan Văn H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Xuân giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với Mai Nhữ M, Phan Văn H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c, khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.
Xử phạt bị cáo Mai Nhữ M mức án từ 26 đến 29 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam; Bị cáo Phan Văn H mức án từ 24 đến 26 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam; đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo. Ngoài ra còn đề nghị HĐXX xử lý về vật chứng và án phí theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố, lời luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa, trong phần tranh luận các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi HĐXX vào phòng nghị án:
Các bị cáo rất hối hận về hành vi của bản thân, đề nghị HĐXX xem xét, cân nhắc cho bị cáo được hưởng chính sách khoan hồng của pháp luật, xử phạt bị cáo ở mức hình phạt thấp của khung hình phạt để bị cáo có cơ hội sữa chữa lỗi lầm của bản thân, phấn đấu trở thành công dân có ích cho xã hội.
Căn cứ vào các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhân định như sau:
[1] Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án cơ quan điều tra, cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Mai Nhữ M, Phan Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án; Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, lời luận tội của Kiểm sát viên, lời khai của những người bị hại, kết luận giám định và kết quả tranh luận tại phiên tòa hôm nay, thể hiện:
Vào khoảng cuối tháng 3/2023, do không có công việc ổn định nên Mai Nhữ M bàn bạc với Phan Văn H tham gia nhóm lừa đảo trên Telegram có tên là : "Mua bán xe máy nhập khẩu toàn quốc giá rẻ - Đức T2”. Sau đó M và H sử dụng tài khoản Facebook : 'Mua bán xe máy nhập khẩu toàn quốc giá rẻ - Đức T2” đăng các thông tin về mua bán xe máy nhằm lừa đảo tiền của người mua. Khi khách hàng có nhu cầu mua xe, thì M gọi điện đến yêu cầu khách hàng phải đặt cọc trước từ 01 đến 03 triệu đồng tùy từng loại xe ; còn H có nhiệm vụ gọi điện giả danh cảnh sát giao thông yêu cầu khách hàng phải đưa thêm từ 03 đến 05 triệu đồng để làm thủ tục đăng ký xe. Với thủ đoạn trên từ khoảng tháng 8/2023 đến tháng 6/2024, Mai Nhữ M và Phan Văn H đã lừa đảo chiếm đoạt tổng số tiền là 54.000.000 đồng của các bị hại gồm :
- Anh Nguyễn Khắc Đ1, sinh năm 1991, trú tại thôn L, xã L, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).
- Anh Đỗ Văn B1, sinh năm 1975, trú tại thôn Đ, xã B (nay là thôn P, xã Q), huyện T, thành phố Hà Nội, số tiền 17.000.000 đồng (mười bảy triệu đồng).
- Anh Trần Công L, sinh năm 1986, trú tại thôn A, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội, số tiền 15.000.000 đồng.
- Anh Vũ Văn K, sinh năm 1987, trú tại thôn H, xã L, huyện L, tỉnh Bắc Giang, số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).
- Anh Đỗ Văn S, sinh năm 1977, trú tại Khu phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).
- Anh Lê Đình P, sinh năm 1979, trú tại thôn H, xã H, huyện D, tỉnh Nghệ An, số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).
- Anh Phùng Văn T1, sinh năm 1982, trú tại Khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, số tiền 8.000.000 đồng (tám triệu đồng).
Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự. Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ của vụ án và vai trò của từng bị cáo trong vụ án thì thấy:
Hành vi của các bị cáo Mai Nhữ M, Phan Văn H là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây nên sự bất bình, tâm lý hoang mang trong dư luận nhân dân nên cần phải được xử lý đúng mức để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Xét tính chất mức độ hành vi của từng bị cáo thì thấy: Đây là vụ án đồng phạm, các bị cáo có sự bàn bạc bạc thống nhất với nhau và phân công nhiệm vụ từ trước. Các bị cáo Mai Nhữ M, Phan Văn H đều là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, vì vậy các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi do mình đã gây ra. Xét về vai trò của từng bị cáo trong vụ án này thì thấy bị cáo M là người chủ động rủ rê bị cáo H hiện hành vi phạm tội, lẽ ra bị cáo H phải tích cực ngăn cản bị cáo M từ bỏ ý định phạm tội, nhưng bị cáo không những không ngăn cản mà lại tiếp nhận ý chí của đồng phạm và giúp sức tích cực cho bị cáo M thực hiện hành vi phạm tội. Từ những căn cứ phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy trong vụ án này vai trò của bị cáo M trong vụ án này là cao hơn so với bị cáo H, đây là căn cứ để quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
[4] Xét nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo thì thấy:
Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt.
Về tình tiết tăng nặng TNHS: phạm tội nhiều lần thuộc điểm g, khoản 1 Điều 52 BLHS 2015.
Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo; bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả; đầu thú hành vi phạm tội của mình. Vì vậy cần áp dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo thấy rõ sự khoan hồng của pháp luật.
[5] Về đề nghị của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị áp dụng đối với bị cáo: Về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, án phí và xử lý vật chứng mà đại diện Viện kiểm sát đã có ý kiến đề nghị. Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật, do đó đề nghị của đại diện Viện kiểm sát được HĐXX chấp nhận.
[6] Về hình phạt: Từ những căn cứ phân tích nêu trên cần áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58 và Điều 38 BLHS 2015 đối với các bị cáo. Xử phạt các bị cáo một mức án tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để các bị cáo yên tâm cải tạo, tu dưỡng, rèn luyện gạt bỏ lỗi lầm trở thành công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện kinh tế của các bị cáo thì thấy, bản thân các bị cáo không có công việc ổn định, thu nhập không có; điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, không có khả năng thi hành án. Do vậy không cần áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo quy định tại khoản 5 Điều 174 BLHS.
[7] Về xử lý vật chứng:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8, số sê-ri “C8PVXB4PJC6C" thu giữ của Mai Nhữ M; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 13C, thu giữ của Phan Văn H. Đây là phương tiện các bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội, nên cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS để xử lý.
- 01(một) sim điện thoại số thuê bao 0399.893.xxx, hiện đang lắp trong máy điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 13C của Phan Văn H. Sim thuê bao này không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, nên cần áp dụng Điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS để trả lại cho bị cáo.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại Nguyễn Khắc Đ1; Đỗ Văn B1; Trần Công L; Vũ Văn K; Đỗ Văn S; Lê Đình P và Phùng Văn T1 đã được nhận lại tài sản, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm nên HĐXX miễn xét.
[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm c, khoản 2 Điều 174; Điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g, khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Mai Nhữ M, Phan Văn H.
- Tuyên bố: Các bị cáo Mai Nhữ M, Phan Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Xử phạt:
Mai Nhữ M 26(Hai sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 21/12/2024.
Phan Văn H 24(Hai bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 21/12/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu phát mãi sung vào ngân sách Nhà nước 02(Hai) điện thoại di động thu giữ của các bị cáo.
Trả lại cho bị cáo Phan Văn H3 01 sim điện thoại số thuê bao 0399.893.xxx
Toàn bộ số vật chứng này được thể hiện như biên bản bàn giao vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thường Xuân lập ngày 20/3/2025.
- Về án phí và các vấn đề khác: Áp dụng khoản 2 Điều 135, Điều 136, Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, buộc bị cáo Mai Nhữ M, Phan Văn H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai, sơ thẩm có mặt các bị cáo; vắng mặt những người bị hại. Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Những người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Sỹ H |
Bản án số 16/2025/HS-ST ngày 08/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG XUÂN, TỈNH THANH HOÁ về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 16/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG XUÂN, TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tại bản án HSST số 16/2025/HSST, ngày 08/4/2025 của TAND huyện Thường Xuân đã tuyên phạt: Mai Nhữ Mi 26(Hai sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 21/12/2024. Phan Văn H 24(Hai bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 21/12/2024.
