Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN LẠC

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2025/HS - ST

Ngày 07 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phan Thị Thanh M

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy T

Ông Trần Văn H

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt A- Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim H - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2025/TLST- HS ngày 22 tháng 01 năm 2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST - HS ngày 21 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Đỗ Văn T, sinh ngày 09 tháng 01 năm 1983 tại xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn Y, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn C và bà Nguyễn Thị M; có vợ là Nguyễn Thị D và có 02 con (con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2017); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo hiện nay đang được tại ngoại tại địa phương “có mặt”.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Tạ Thị H năm 1967; địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc “vắng mặt có lý do".

  • - Chị Nguyễn Thị H1 năm 1981; địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc “vắng mặt”.

  • - Anh Hoàng Văn N năm 1979; địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc “vắng mặt có lý do”.

  • - Anh Đoàn T1 H2sinh năm 1973; địa chỉ: Tổ I, TDP. Y, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội “vắng mặt”.

  • - Ông Bùi Đình S, sinh năm 1962 địa chỉ: Số F, đường N, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng “vắng mặt có lý do”.

  • - Đinh Thị Thùy D1, sinh năm 1984; địa chỉ: Căn hộ E- tầng E, nhà K T, phường N, quận C, thành phố Hà Nội “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hộ kinh doanh Đỗ Văn T2 Đỗ Văn T3 năm 1983 ở thôn Y, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc là chủ hộ, hoạt động theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Hộ kinh doanh cá thể số 19F8003678 do Phòng Tài chính - Kế hoạch UBND huyện Y, đăng ký lần đầu ngày 03/9/2008; tên hộ kinh Doanh: Đỗ Văn T4 điểm kinh doanh: Xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúcngành nghề kinh doanh: Mua bán phế liệu, mua bán ô tô; vốn kinh doanh: 1.200.000.000 đồng; mã số thuế: 8352586084 cấp ngày 09/9/2014. Hộ kinh doanh Đỗ Văn T5 động kinh doanh mua bán phụ tùng, máy công trình cũ; mua bán phế liệu là sắt vụn, máy móc công trình đã cũ tại thôn Y, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh PhúcTuy nhiên, Đỗ Văn T6 ghi chép, theo dõi doanh thu, không đến cơ quan thuế để kê khai nộp thuế cho Nhà nước theo quy định.

Quá trình điều tra xác định: Từ năm 2019 đến năm 2021, Đỗ Văn T7 bán hàng hoá là máy xúc, máy xúc lật, phụ tùng, sắt vụn cho 04 cá nhân là chị Tạ Thị H năm 1967, ở thôn G, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúcchị Nguyễn Thị H1sinh năm 1981, ở thôn N, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúcanh Hoàng Văn N năm 1979, ở thôn G, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúcanh Đoàn Trung H2 sinh năm 1973, ở tổ I, TDP. Y, phường Đ, quận H, thành phố H tổng doanh thu tiền hàng hoá là 12.364.529.999 đồng, cụ thể:

- Đối với chị Tạ Thị H2 2020 và 2021, Tđã bán sắt phế liệu cho chị H3 lần với tổng số tiền hàng là 5.510.529.999 đồng. Do chị H4 sử dụng ứng dụng chuyển khoản trên điện thoại nên đã bảo con gái là chị Nguyễn Thị P năm 1995, sử dụng tài khoản Ngân hàng của chị P1 chuyển tiền cho Thủ qua 03 số tài khoản Ngân hàng gồm:

Số tài khoản 101870027572 Ngân hàng TMCP C1của chị P2 đến số tài khoản 109833238888 Ngân hàng TMCP C tổng cộng 20 lần chuyển khoản vào các ngày: Ngày 03/7/2020 chuyển số tiền 39.520.000 đồng, ngày 17/8/2020 chuyển số tiền 50.100.000 đồng, ngày 08/9/2020 chuyển số tiền 75.780.000 đồng, ngày 06/4/2021 chuyển số tiền 71.800.000 đồng; ngày 04/5/2021 chuyển 02 lần, tổng số tiền 02 lần chuyển là 500.000.000 đồng, ngày 10/5/2021 chuyển số tiền 475.000.000 đồng, ngày 10/5/2021 chuyển số tiền 295.000.000 đồng, ngày 15/5/2021 chuyển số tiền 350.000.000 đồng, ngày 07/6/2021 chuyển số tiền 200.000.000 đồng, ngày 09/8/2021 chuyển số tiền 320.000.000 đồng, ngày 18/8/2021 chuyển số tiền 300.000.000 đồng, ngày 22/8/2021 chuyển số tiền 103.000.000 đồng, ngày 23/8/2021 chuyển số tiền 110.000.000 đồng, ngày 06/9/2021 chuyển số tiền 211.140.000 đồng, ngày 26/10/2021 chuyển số tiền là 100.000.000 đồng, ngày 04/11/2021 chuyển số tiền 100.000.000 đồng; ngày 12/11/2021 chuyển số tiền 150.000.000 đồng, ngày chuyển số tiền 15/11/2021 chuyển 499.999.999 đồng; ngày 13/12/2021 chuyển 300.000.000 đồng.

Số tài khoản 42510001183715 Ngân hàng đầu tư của chị P2 đến số tài khoản 109833238888 Ngân hàng TMCP C tổng cộng 04 (bốn) lần vào các ngày: Ngày 10/6/2021 chuyển 300.000.000 đồng, ngày 22/6/2021 chuyển 150.000.000 đồng, ngày 25/6/2021 chuyển 319.190.000 đồng, ngày 26/9/2021 chuyển 200.000.000 đồng.

Số tài khoản 0361000327258 Ngân hàng TMCP N1của chị P2 đến số tài khoản 109833238888 Ngân hàng TMCP C1của Thủ 01 (một) lần ngày 10/6/2021 số tiền 290.000.000 đồng.

- Đối với anh Đoàn T1 H2năm 2019 và 2021, Tđã bán máy xúc cho anh H5 (ba) lần với tổng số tiền hàng hoá là 3.710.000.000 đồng (Ba tỷ, bảy trăm mười triệu đồng). Anh H2thanh toán tiền hàng cho T8 hình thức chuyển khoản tổng số 11 lần trong đó:

Ngày 21/11/2019, Thủ bán xúc cũ cho anh H2với tổng số tiền hàng là 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng), anh H2đã thanh toán tiền cho T9 03 lần:

+ Lần 1: Ngày 21/11/2019, anh H2sử dụng số tài khoản 220.020.540.3xxx của mình chuyển số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) đến số tài khoản 109.833.238.888 Ngân hàng TMCP C

+ Lần 2: Ngày 22/11/2019, anh H2sử dụng số tài khoản 450.100.001.223.39 của mình chuyển số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) đến số tài khoản 109.833.238.888 Ngân hàng TMCP C

+ Lần 3: Ngày 22/11/2019, anh H2đến Ngân hàng (không sử dụng tài khoản) chuyển trực tiếp số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) đến số tài khoản 109.833.238.888 Ngân hàng TMCP C

Ngày 28/5/2021, anh H2tiếp tục mua thiết bị máy xúc nhãn hiệu Komatsu của Đỗ Văn T10 số tiền là 500.000.000 đồng, anh H2đã thành toán tiền hàng cho Tlần 03 lần bằng hình thức chuyển khoản từ số tài khoản 450.100.001.223.39 của mình đến số tài khoản 109.833.238.888 Ngân hàng TMCP C

Ngày 29/5/2021, Thủ bán thiết bị máy xúc nhãn hiệu Komatsu Pc 1100-6 cho anh H2với số tiền hàng hóa là 1.210.000.000 đồng (một tỷ, hai trăm mười triệu đồng), anh H2thanh toán tiền cho T9 05 lần bằng hình thức chuyển khoản trong đó: Lần 1 ngày 28/5/2021, anh H2đã trực tiếp đến Ngân hàng (không sử dụng tài khoản) chuyển số tiền 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) đến số tài khoản 106.868.033.666 của T04 lần còn lại anh H2dùng số tài khoản 450.100.001.223.39 Ngân hàng TMCP Đ của H2 chuyển khoản số tiền 710.000.000 đồng đến số tài khoản 109.833.238.888 Ngân hàng TMCP C

Đối với chị Nguyễn Thị H6: Năm 2021, Tbán cho chị H7 máy xúc lật phế liệu với tổng số tiền hàng hóa là 2.135.000.000 đồng (hai tỷ, một trăm ba mươi năm triệu đồng), chị H1đã thanh toán tiền cho T8 hình thức chuyển khoản, cụ thể:

Ngày 11/10/2021, chị H1sử dụng tài khoản số 0361000211987 Ngân hàng Thương mại cổ phần N(Vchuyển số tiền 800.000.000 đồng (chị H1thực hiện chuyển khoản 02 lần, mỗi lần chuyển 400.000.000 đồng) đến số tài khoản 10983323888 Ngân hàng V1 của T

Ngày 09/10/2021, chị H1sử dụng tài khoản số 42510001402234 Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ(Bchuyển số tiền 900.000.000 đồng (H1 thực hiện chuyển khoản 03 lần: 02 lần chuyển 400.000.000 đồng, 01 lần chuyển 100.000.000 đồng) đến số tài khoản 10983323888 Ngân hàng V1của T

Ngày 13/11/2021, chị H1sử dụng tài khoản số 42510001402234 Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ(Bchuyển số tiền 435.000.000 đồng đến số tài khoản 10983323888 Ngân hàng V1của T

- Đối với anh Hoàng Văn N1 2019 và năm 2021, Đỗ Văn T11 lần bán máy xúc lật và phụ tùng máy xúc cho N2 tổng số tiền hàng hóa là 1.009.000.000 đồng (một tỷ, không trăm linh chín triệu đồng). Anh N3 toán tiền hàng cho T8 hình thức chuyển khoản, cụ thể:

- Ngày 25/11/2019, Nsử dụng tài khoản Ngân hàng số [...] chuyển khoản số tiền 12.000.000 đồng vào tài khoản Ngân hàng số [...] của T

Ngày 27/4/2021, T12 cho anh N4 (một) chiếc máy xúc lật nhãn hiệu Kawa 90 với số tiền 800.000.000 đồng (tám trăm triệu đồng). Ngày 27/4/2021, anh Nsử dụng số tài khoản Ngân hàng D2chuyển số tiền 100.000.000 đồng đến số tài khoản Ngân hàng 109833238888 của Tcùng ngày 27/4/2021, anh Nsử dụng số tài khoản Ngân hàng Achuyển số tiền 250.000.000 đồng đến số tài khoản Ngân hàng 109833238888 của Tvà ngày 28/4/2021, anh N5 số tài khoản 100857888999 chuyển số tiền 450.000.000 đồng vào số tài khoản Ngân hàng 109833238888 của T

Ngày 04/7/2021, T12 cho anh N4 (một) chiếc máy xúc lật 530 với giá 197.000.000 đồng, anh Nsử dụng số tài khoản Ngân hàng 100857888999 chuyển số tiền 197.000.000 đồng vào số tài khoản Ngân hàng 109833238888 của T

Ngày 17/3/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Y Quyết định trưng cầu giám định số 83/TCGĐ-CSĐT gửi Cục T24 tỉnh Vđể giám định thuế đối với hộ kinh doanh Đỗ Văn T13 dung:

“1. Hành vi của Đỗ Văn T14 việc bán hàng hoá cho 04 cá nhân thu được số tiền là 12.813.059.999 đồng nhưng không xuất hoá đơn bán hàng, không kê khai, nộp thuế có phải hành vi trốn thuế không? Trốn những loại thuế gì? Tổng số tiền thuế mà Đỗ Văn T7 trốn không nộp vào ngân sách Nhà nước là bao nhiêu? Số tiền phải truy thu là bao nhiêu?

2. Hành vi vi phạm của Đỗ Văn T15 quy định tại văn bản pháp luật nào?”

Tại Kết luận giám định ngày 12/5/2022 của Cục thuế tỉnh T24:

“2.1. Căn cứ quy định tại khoản 1, 2, 3 Điều 7 Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006...; khoản 1 Điều 2 Luật số 71/2014/QH13 ngày 26/11/2014, sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 26/2012/QH13 quy định thu nhập từ kinh doanh...; Điều 2 Luật thuế TNCN số 04/2007/QH12 ngày 21/11/2007 quy định về đối tượng nộp thuế...; Điều 1 Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/6/2015 của Bộ T25 định về người nộp thuế... Điều 1,2,4 Thông tư số 40/2021/TT-BTC ngày 01/6/2021 của Bộ T26...

Căn cứ các quy định trên thì cá nhân kinh doanh Đỗ Văn T16 công dân Việt Nam, là cá nhân cư trú có hoạt động kinh doanh từ bán hàng hoá là máy xúc, máy xúc lật, phụ tùng, sắt vụn, có doanh thu từ hoạt động kinh doanh phát sinh từ năm 2019 đến tháng 12 năm 2021 với số tiền là 12.813.059.999 đồng thuộc đối tượng phải chịu thuế giá trị gia tăng (GTGT), thuế thu nhập cá nhân (TNCN) và phải thực hiện kê khai, nộp thuế GTGT, thuế TNCN.

2.2. Cá nhân kinh doanh Đỗ Văn T17 thực hiện đăng ký thuế hộ kinh doanh với cơ quan thuế từ khi thành lập theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh lần đầu vào ngày 03/9/2008, không thực hiện kê khai thuế, nộp thuế vào ngân sách Nhà nước từ năm 2019 đến tháng 12 năm 2021 là hành vi trốn thuế, gian lận thuế quy định tại các khoản 1, 3 Điều 108 Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006... Khoản 1, 3 Điều 143 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13/6/2019... Hành vi trốn thuế bị xử phạt theo quy định tại Điều 11 Nghị định số 129/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 quy định xử phạt đối với hành vi trốn thuế, gian lận thuế; Điều 17 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 qui định xử phạt hành vi trốn thuế.”

2.3. Số tiền thuế GTGT, TNCN trốn xác định ... từ năm 2019 đến hết tháng 12 năm 2021 là 192.195.900 đồng (Một trăm chín mươi hai triệu, một trăm chín mươi năm nghìn, chín trăm đồng). Trong đó: thuế GTGT trốn do không kê khai là 128.130.600 đồng; thuế TNCN trốn do không kê khai là 64.065.300 đồng...”

Quá trình điều tra xác định ngày 06/9/2021, chị P3 chuyển nhầm số tiền 448.530.000 đồng đến số tài khoản của Đỗ Văn T18 đó được Thủ chuyển trả lại ngay số tiền này, thực tế số tiền này là chị P2 cho chị H8(là đối tác làm ăn của bà H9 việc mua bán hàng hoá giữa bà H10 chị H3không phải là tiền hàng trong doanh thu của hộ kinh doanh Đỗ Văn T19 2021.

Ngày 14/6/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Y Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 03/TCGĐ-CSĐT đối với việc chấp hành nghĩa vụ thuế theo quy định pháp luật đối với hộ cá nhân kinh doanh Đỗ Văn Thủ từ năm 2019 đến hết tháng 12 năm 2021.

Ngày 15/7/2022, Giám định viên tư pháp thuộc Cục Thuế tỉnh T24 kết luận giám định bổ sung xác định:

“...trong năm 2021, tổng cộng doanh thu bán hàng mà hộ cá nhân Đỗ Văn T6 thực hiện kê khai thuế là 10.187.129.999 đồng...(số thuế GTGT trốn phải nộp bằng 101.871.300 đồng; số thuế TNCN trốn phải nộp bằng 10.187.129.999 đồng).

Tổng cộng số thuế TNCN, thuế GTGT trốn do không kê khai từ năm 2019 đến hết tháng 12 năm 2021 là 185.467.950 đồng (một trăm tám mươi năm triệu, bốn trăm sáu mươi bảy nghìn, chín trăm năm mươi đồng), trong đó: Thuế GTGT trốn do không kê khai là 123.645.300 đồng; thuế TNCN trốn do không kê khai là 61.822.650 đồng.”.

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thông báo các kết luận giám định trên cho TTđồng ý và không có ý kiến gì.

Đối với cá nhân xác định được đã bán hàng hoá là: máy xúc, máy ủi, máy công trình và sắt vụn... cho Đỗ Văn T20: Bùi Đình S1 năm 1962, trú tại: số F N, phường N, quận L, thành phố H PhòngĐinh Thị Thùy D1sinh năm 1984, trú tại: căn hộ E, nhà K T, phường N, quận C, thành phố H bán hàng hoá cho T6 xuất hoá đơn, không thông qua hợp đồng kinh tế. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh.

Đối với các cá nhân khác đã bán hàng hóa cho Đỗ Văn T14 thời gian từ 2019 đến 2021, do T6 nhớ không mua của những ai, không nhớ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của những người này nên cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xác minh và xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với 04 cá nhân xác định đã mua hàng hoá của Đỗ Văn T20: anh Hoàng Văn Nchị Nguyễn Thị H11 Tạ Thị Hanh Đ H2do các cá nhân này không lập hợp đồng kinh tế, không lấy lấy hoá đơn khi giao dịch mua hàng. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh.

Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu, xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, T7 tự nguyện giao nộp số tiền 185.468.000 đồng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Y hậu quả.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Y, Đỗ Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Cáo trạng số 14/CT - VKSYL ngày 11 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc truy tố bị cáo Đỗ Văn T về tội “Trốn thuế” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 200 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như Cáo trạng đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 200; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Văn T21 T107 (Bảy) tháng đến 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách gấp đôi.

Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra xác định bị cáo không có tài sản chung, tài sản riêng. Hiện tại, bị cáo làm ăn gặp nhiều khó khăn, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc đề nghị tịch thu, sung ngân sách Nhà nước số tiền 185.468.000 đồng bị cáo đã trốn thuế. Xác nhận bị cáo đã nộp tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Y khắc phục hậu quả; đồng thời, đề nghị về án phí theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của những người tham gia tố tụng:

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Tạ Thị H chị Nguyễn Thị H12 Hoàng Văn Nanh Đ H2 ông Bùi Đình S2 chị Đinh Thị T22 D1 vắng mặt tại phiên tòa xong trong quá trình điều tra đều trình bày và xác nhận các nội dung phù hợp với lời khai của bị cáo cùng các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Đỗ Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố. Bị cáo khai nhận như sau: Trong khoảng thời gian từ cuối tháng 11 năm 2019 đến hết tháng 12 năm 2021, Đỗ Văn T16 chủ hộ kinh doanh cá thể đã bán hàng hoá là máy xúc, máy xúc lật, phụ tùng, sắt vụn cho 04 cá nhân là chị Tạ Thị H năm 1967, ở thôn G, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúcchị Nguyễn Thị H1sinh năm 1981, ở thôn N, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúcanh Hoàng Văn N năm 1979, ở thôn G, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúcanh Đoàn Trung H2sinh năm 1973, ở tổ I, TDP. Y, phường Đ, quận H, thành phố H tổng số tiền là 12.364.529.999 đồng. Tuy nhiên, Đỗ Văn T6 ghi chép, theo dõi doanh thu, không nộp hồ sơ đăng ký thuế, không nộp hồ sơ khai thuế, không đến cơ quan thuế để kê khai nộp thuế cho Nhà nước theo quy định. Số tiền thuế Tkhông nộp cho cơ quan có thẩm quyền được xác định là 185.467.950 đồng.

[3] Xét lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai của bị cáo và lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại Cơ quan điều tra, Kết luận giám định, Kết luận giám định bổ sung cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của Đỗ Văn T đã phạm vào tội “Trốn thuế”, tội danh được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 200 của Bộ luật Hình sự. Nội dung điều luật quy định:

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây trốn thuế với số tiền từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế; nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày kể từ ngày hết hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy định của pháp luật; ...”

[4] Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bịcáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương và xâm phạm đến chế độ quản lý thuế của Nhà nước, gây thất thu cho ngân sách Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình phát triển kinh tế, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải phải đưa bị cáo ra xét xử trước pháp luật mới có tác dụng răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

[5] Xét nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đó là người phạm tội tự nguyện khắc phục hậu quả; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; ngoài ra, mẹ bị cáo là bà Nguyễn Thị M được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất và bố bị cáo là ông Đỗ Văn C được tặng thưởng huy chương vì giai cấp nông dân Việt Nam. Do bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ nên có đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, không cần thiết bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại Trại giam mà cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách gấp đôi và giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú giám sát, giáo dục với mức án như đề nghị của Viện kiểm sát cũng đủ để răn đe, phòng ngừa chung cũng như tạo điều kiện giúp bị cáo có cơ hội tự cải tạo, sửa chữa sai lầm để trở thành công dân có ích cho xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra xác định bị cáo không có tài sản chung, tài sản riêng. Hiện tại, bị cáo làm ăn gặp nhiều khó khăn, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng và các vấn đề liên quan trong vụ án:

Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước số tiền 185.467.950 đồng (làm tròn 185.468.000 đồng) bị cáo đã trốn thuế. Xác nhận bị cáo đã nộp số tiền trên tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Y hậu quả.

Đối với các cá nhân xác định được đã bán hàng hoá là: máy xúc, máy ủi, máy công trình và sắt vụn... cho Đỗ Văn T20: Bùi Đình S1 năm 1962, trú tại: số F N, phường N, quận L, thành phố H PhòngĐinh Thị Thùy D1sinh năm 1984, trú tại: căn hộ E, nhà K T, phường N, quận C, thành phố H bán hàng hoá cho T6 xuất hoá đơn, không thông qua hợp đồng kinh tế. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh.

Đối với các cá nhân khác đã bán hàng hóa cho Đỗ Văn T14 thời gian từ 2019 đến 2021, do T6 nhớ không mua của những ai, không nhớ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của những người này nên cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xác minh và xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với 04 cá nhân xác định đã mua hàng hoá của Đỗ Văn T20: anh Hoàng Văn Nchị Nguyễn Thị H11 Tạ Thị Hanh Đ H2do các cá nhân này không lập hợp đồng kinh tế, không lấy lấy hoá đơn khi giao dịch mua hàng. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh.

[8] Về án phí: Bị cáo Đỗ Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn T phạm T23“Trốn thuế”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 200; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn T 07 (Bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đỗ Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước số tiền 185.467.950 đồng (làm tròn 185.468.000 đồng) bị cáo đã trốn thuế. Xác nhận bị cáo đã nộp số tiền 185.468.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0001330 ngày 12/02/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Lạc.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Đỗ Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần Bản án liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Duy T

Phan Thị Thanh M

Trần Văn H

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2025/HS - ST ngày 07/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC về trốn thuế (tội phạm hình sự)

  • Số bản án: 16/2025/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Trốn thuế (Tội phạm hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do V T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger