Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2025/HS-ST

Ngày: 07-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH ĐỒNG THÁP

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hùng.

Các Hội thẩm Nhân dân.

1. Ông Huỳnh Phú Ba

2. Ông Nguyễn Phi Hùng

Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Minh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Châu Thành.

Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Cao Hoàng Sang - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đàng Minh Q sinh ngày 29/5/2005, tại tỉnh Đồng Tháp; Tên gọi khác: Cu; Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đ; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Con ông: không có, và bà: Đàng Kim H, sinh năm 1984; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không có; Tạm giữ ngày 05/02/2025, chuyển tạm giam ngày 08/02/2025; Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại phân trại tạm giam khu vực huyện C;

Người bị hại: Đặng Kim N sinh năm 1974; Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đ; (Có mặt)

Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Phan Trường S sinh năm 1982; Địa chỉ: Số B, Khóm H, Phường B, thành phố S, tỉnh Đ; (Có mặt)

Người làm chứng: Phạm Ngọc T sinh năm 1952; Địa chỉ: Khóm C, Phường B, thành phố S, tỉnh Đ; (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đàng Minh Q, sinh ngày 29/5/2005 là cháu ruột của bà Đặng Kim N, sinh năm 1974, ngụ ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đ. Vào ngày 28/6/2024, Q từ tỉnh Bình Dương về nhà bà N chơi và ở lại để làm giấy căn cước công dân. Đến khoảng 15 giờ ngày 30/6/2024, bà N đi làm vườn ở phía sau nhà, không được sự đồng ý của chị N, Q đã lấy xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, biển số 66C1-45481 đang dựng trong nhà, chạy đến cửa hàng mua bán xe máy “T" thuộc khóm H, Phường B, thành phố S, tỉnh Đ do anh Phan Trường S làm chủ. Q kêu bán xe với số tiền 8.000.000 đồng nhưng do Q không có giấy căn cước công dân nên anh S không mua và nói là phải có người thân bảo lãnh thì mới mua. Q về nhà nhờ ông nội là Phạm Ngọc T, sinh năm 1952, ngụ Khóm C, Phường A, thành phố S, tỉnh Đ đứng ra làm giấy bán xe giùm và anh S đồng ý mua với giá 8.000.000 đồng. Sau khi lấy tiền bán xe xong, Q đón xe lên tỉnh B tiếp tục đi làm thuê. Sau khi phát hiện bị mất xe chị N đến Công an xã T Đông trình báo. Đến ngày 18/7/2024, Q đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Đ đầu thú. Quá trình truy tố Q bỏ trốn, đến ngày 05/2/2025 Q bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C bắt theo Quyết định truy nã;

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 59/KL-HĐĐGTS, ngày 31/7/2024 của Hội đồng Định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện C, tỉnh Đ kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision màu đen xám, biển số 66C1-454.81 có giá trị là 14.000.000 đồng;

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã tạm giữ và trao trả: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision màu đem xám, biển số 66C1-454.81 cho chị Đặng Kim N, chị N không yêu cầu gì thêm và có đơn không yêu cầu xử lý hình sự đối với Q;

Đối với ông Phạm Ngọc T và anh Phan Thanh S1 không biết xe mà bị can Q đem đi bán là xe do trộm cắp mà có nên không xem xét xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Phan Trường S yêu cầu Q bồi thường số tiền 8.000.000 đồng, Q đã bồi thường 4.000.000đồng, còn lại 4.000.000 đồng;

Tại Cáo trạng số: 16/CT-VKS-CT ngày 19/02/2025, Viện Kiểm sát nhân dân huyện C đã truy tố bị cáo Đàng Minh Quốc Phan Thanh N1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C trong phần tranh luận giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị:

Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Đàng Minh Q về tội “Trộm cắp tài sản” với mức án từ 03 tháng đến 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đã thỏa thuận bồi thường xong;

Về xử lý vật chứng: không

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời nói sau cùng bị cáo Q xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Qua điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai người bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó có đủ cơ sở xác định: Vào lúc khoảng 10 giờ ngày 28/6/2024, lợi dụng cô ruột là bà Đặng Kim N, ngụ ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đ mất cảnh giác trong việc quản lý tài sản bị cáo Đàng Minh Q đã lét lút lấy trộm xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision màu đen xám, biển số 66C1-454.81 có giá trị là 14.000.000 đồng, đem đi bán được số tiền 8.000.000 đồng để tiêu xài cá nhân. Hành vi của bị cáo Đàng Minh Q có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

[3] Bị cáo Đàng Minh Q có đầy đủ sức khỏe, không lo lao động tạo thu nhập nuôi sống bản thân, tu dưỡng để trở thành người công dân tốt, khi muốn có tiền tiêu xài cho bản thân mà không cần phải lao động, lợi dụng lòng tin của gia đình bị hại không trông coi tài sản thì bị cáo có hành vi lén lút, liều lĩnh bất chấp hậu quả chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người bị hại một cách trái pháp luật, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an ở địa phương, nếu không kịp thời phát hiện bị cáo Q là người thực hành vi phạm tội thì bị hại nghi ngờ nội bộ làm mất đoàn kết sớm riềng. Hành vi này cần phải xử lý nghiêm nhằm giáo dục, phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Q có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, Mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị cáo khắc phục hậu quả cho anh S đã xong; Người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên căn cứ điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Q.

[5] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[6] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ đã viện dẫn. Phát biểu luận tội của Kiểm sát viên; Bị cáo không tranh luận. Hội đồng xét xử xét thấy cáo trạng truy tố và luận tội của kiểm sát viên là đúng người đúng tội phù hợp tính chất mức độ phạm tội; Từ những tình tiết trên Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Q và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răng đe, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Đã thỏa thuận bồi thường xong;

[8] Về vật chứng: Không

[9] Về án phí: bị cáo Đàng Minh Quốc P chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015;

Tuyên bố bị cáo Đàng Minh Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Đàng Minh Q 06 (Sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam: 05/02/2025;

2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án,

Buộc bị cáo Đàng Minh Q phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm;

3. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người bị hại và người có quyền lội nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo lên Tòa án Nhân dân Tỉnh Đồng Tháp.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - CA huyện Châu Thành;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - THADS huyện Châu Thành;
  • - Sở tư pháp;
  • - Lưu;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2025/HS-ST ngày 07/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 16/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt 6 (Sáu) tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger