|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 16/2025/HS-PT Ngày: 30 - 6 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hồng.
Các Thẩm phán: Bà Đinh Thị Như Phượng và bà Cao Thị Thanh Huyền
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Nga – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hoà - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 112/2024/TLPT-HS ngày 03 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Quốc T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 64/2024/HSST ngày 04 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai.
Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Quốc T, sinh ngày 11/6/1980 tại thành phố Hà Nội; nơi cư trú: Tổ dân phố F, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Bác sĩ; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu T1 và bà Nguyễn Thị H; bị cáo có vợ là Phạm Thị H1 và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. Vắng mặt.
- Đại diện bị hại: Đội công trình giao thông và dịch vụ đô thị huyện Đ; địa chỉ trụ sở: Thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Gia Lai.
Đại diện hợp pháp: Ông Trần Hữu D – Đội phó phụ trách. Vắng mặt.
Ông D uỷ quyền cho ông Nguyễn Quốc A, Phó đội trưởng Đội công trình giao thông và dịch vụ đô thị huyện Đ. Theo Giấy uỷ quyền ngày 26/6/2025. Có mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Lương Hữu M, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn I, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- + Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn I, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- + Ông Vũ Văn T2, sinh năm 1986; địa chỉ: Tổ A, khu phố P, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
- + Ông Võ Ngọc L, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn T, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- + Ông Trần H2, sinh năm 1947; địa chỉ: Tổ dân phố D, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 09/4/2023 và ngày 10/4/2023, Nguyễn Quốc T có thỏa thuận và chuyển tiền đặt cọc bằng hình thức chuyển khoản qua Ngân hàng để mua hai lô đất số 04 và 05 khu A đường T, thuộc tổ dân phố D, thị trấn C, huyện Đ của ông Vũ Văn T2 (sinh năm 1986, trú tại Tổ A, khu phố P, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu). Đến ngày 20/4/2023, ông T2 đã làm thủ tục sang nhượng hai lô đất này cho T.
Sau khi đặt cọc mua hai lô đất trên, T đã điện thoại cho ông Lương Hữu M (là người Thao quen biết) để nhờ ông M cắt hạ hai cây Sao xanh trước lô đất số 04 và 05 khu A7 nêu trên. Đến sáng ngày 15/4/2023, ông M mượn được cưa nên gọi điện thoại cho T hỏi có cắt cây nữa không thì T trả lời là “có”. Sau đó, ông M điều khiển xe máy chở cưa máy và mang theo một con dao từ nhà đi ra thị trấn C để cắt cây cho T. Trên đường đi, ông M gặp ông Nguyễn Văn N và nói “Thao nhờ ra cắt cây để xây nhà, ông ra phụ tôi tí” thì ông N đồng ý đi cùng.
Khi ra tới lô đất số 04, 05 khu A7 nói trên, ông M gặp T có hỏi là cắt hai cây Sao xanh này có sao không thì T nói là cây trong đất của T, có gì T chịu trách nhiệm. Sau đó, T chỉ cho ông M và ông N cắt hai cây xanh nói trên. Sau khi cắt hạ thì ông Trần H2 (nhà ở sát lô đất 05) đến gặp N và M (lúc này T không còn ở đây) ông đã sang xin gỗ để sử dụng. Ông H2 nhờ ông M và ông N cắt 02 thân cây thành nhiều khúc. Ông H2 lấy 07 (bảy) khúc gỗ Sao xanh. Đến sáng ngày 16/4/2023, khi uống cà phê T có hỏi ông M tiền công cắt cây hết bao nhiêu thì ông M nói chỉ cắt cây hộ chứ không lấy tiền công. Lúc này T đưa cho ông N 200.000 đồng.
02 cây Sao xanh mà T thuê ông M và ông N chặt hạ được xác định là do UBND thị trấn C trồng từ năm 2011, được giao cho Đội công trình giao thông và dịch vụ đô thị huyện Đ quản lý và chăm sóc.
Ngày 18/01/2024, ông Nguyễn Văn L1 (Đội trưởng Đội công trình giao thông và dịch vụ đô thị huyện Đ) trình báo hành vi hủy hoại tài sản Nhà nước của Nguyễn Quốc T.
Ngày 22/02/2024, ông Trần H2 giao cho Cơ quan điều tra 07 (bảy) khúc gỗ do ông xin của ông M và ông N trước đó.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Quốc T chỉ khai nhận hành vi nhờ ông M, ông N cắt, tỉa cành cây nhưng không nói ông M, ông N cắt cả thân cây.
* Bản kết luận định giá tài sản số: 15/KL-HĐĐGTS ngày 11/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, kết luận:
Tại thời điểm tháng 4/2023: 02 Cây xanh, chủng loại Sao xanh. Được trồng vào năm 2011 tại hành lang tuyến đường T, trước lô đất số 04, 05 khu A7 thuộc địa phận tổ dân phố D, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Gia Lai có giá trị là 2.940.000 đồng.
2. Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 64/2024/HSST ngày 04 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 178, điểm i khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt Nguyễn Quốc T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự:
Buộc bị cáo Nguyễn Quốc T bồi thường thiệt hại cho Nhà nước thông qua Đội công trình giao thông và dịch vụ đô thị huyện Đ giá trị 02 cây Sao xanh là 2.940.000 đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định.
3. Kháng cáo của bị cáo:
Ngày 12/11/2024, bị cáo Nguyễn Quốc T có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, trả hồ sơ điều tra lại.
4. Diễn biến vụ án:
Tại phiên toà ngày 28/02/2025, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo. Ngoài ra, bị cáo cho rằng không phạm tội với lý do hành vi của bị cáo không nguy hiểm cho xã hội, chỉ là vi phạm hành chính, cơ quan tiến hành tố tụng đã hình sự hoá việc hành chính, cố ý thu thập tài liệu, chứng cứ không khách quan. Cho rằng tại nhà ông H2 còn một số khúc cây giống loại ông H2 nộp, các khúc cây là vật chứng không hoàn toàn là Sao xanh...Hội đồng xét xử đã tạm ngừng phiên toà để thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ.
Ngày 06/3/2025, Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai có công văn số 23/THS yêu cầu Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai thu thập bổ sung lời khai ông Trần H2 về việc hiện nay tại nhà ông có còn khúc gỗ nào không, nguồn gốc các khúc gỗ đó như thế nào và thu thập bổ sung Kết luận giám định đối với 07 khúc gỗ là vật chứng do ông H2 nộp về nội dung “Tên gỗ, nhóm gỗ, độ tuổi gỗ và gỗ thu giữ có đồng nhất một chủng loại không, các khúc gỗ đó được cắt ra từ bao nhiêu cây”.
Ngày 27/3/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G đã có Quyết định trưng cầu giám định số 2265/QĐ-CSKT trưng cầu giám định đối với Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh G giám định trong lĩnh vực lâm nghiệp, yêu cầu xác định tên gỗ, nhóm gỗ, độ tuổi gỗ và gỗ thu giữ có đồng nhất một chủng loại không; các khúc gỗ đó được cắt ra từ bao nhiêu cây của từng khúc gỗ được thể hiện tại mẫu giám định là 07 khúc gỗ là vật chứng trong vụ án.
Ngày 04/4/2025, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh G đã có văn bản số 485/SNNMT-LNKL “V/v từ chối tiếp nhận trưng cầu giám định tư pháp trong lĩnh vực lâm nghiệp”, theo đó các giám định viên tư pháp về lâm nghiệp thuộc Sở Nông nghiệp và Môi trường không đủ năng lực, điều kiện cần thiết để thực hiện giám định “Xác định tên gỗ, nhóm gỗ, độ tuổi gỗ và gỗ thu giữ có đồng nhất một chủng loại không? Các khúc gỗ đó được cắt ra từ bao nhiêu cây của từng khúc gỗ được thể hiện tại mẫu cần giám định” theo nội dung trưng cầu giám định của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G.
5. Diễn biến tại phiên toà:
- Bị cáo Nguyễn Quốc T vắng mặt, có đơn xin hoãn phiên toà.
Chủ toạ phiên toà thay mặt Hội đồng xét xử công bố nội dung kháng cáo của bị cáo. Nội dung các đơn đề nghị do phía bị cáo gửi trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm.
- Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355, điểm b khoản 2 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy bản án sơ thẩm để giao hồ sơ cho cấp sơ thẩm điều tra lại.
- Đại diện bị hại ông Nguyễn Quốc A cho rằng ngoài các tài liệu đã nộp trước đây thì hiện nay cơ quan ông không còn tài liệu gì khác để xác định 02 cây bị chặt hạ có phải là Sao xanh hay không, ông nhất trí quan điểm Kiểm sát viên về việc huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với việc vắng mặt của bị cáo Nguyễn Quốc T:
Ngày 23/6/2025 phía bị cáo Nguyễn Quốc T nộp đơn đề nghị có nội dung xin tạm hoãn phiên toà với lý do bị cáo đang chờ giải quyết việc loại bỏ các chứng từ không hợp lệ trong vụ án hình sự và đang liên hệ Luật sư để hỗ trợ pháp lý; Ngày 30/6/2025, phía bị cáo nộp đơn xin hoãn phiên tòa với lí do bị cáo không đảm bảo sức khoẻ tham gia phiên toà ngày 30/6/2025 và đang điều trị bệnh.
Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, vụ án được Toà án cấp phúc thẩm thụ lý đã lâu nên bị cáo đã có thời gian thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, việc vắng mặt của bị cáo tại phiên toà này không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, căn cứ Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự, quyết định tiếp tục xét xử vụ án.
[2] Về nội dung vụ án: Theo nội dung bản án sơ thẩm thì bị cáo Nguyễn Quốc T đã đặt cọc, nhận chuyển nhượng hai lô đất số 04 và 05 khu A đường T, thuộc tổ dân phố D, thị trấn C, huyện Đ từ anh Vũ Văn T2. Do 02 cây xanh toạ lạc trước lô đất này nên bị cáo đã nhờ anh Lương Hữu M chặt hạ, anh M nhờ anh Nguyễn Văn N giúp. Tại thời điểm chặt cây, ngày 15/4/2023 anh Võ Ngọc L phát hiện, đã yêu cầu bị cáo dừng chặt nhưng bị cáo không đồng ý, anh L đã quay, chụp lại hình ảnh và về báo cáo. Ngày 18/01/2024, ông Nguyễn Văn L1 có đơn trình báo gửi đến Công an thị trấn C và Công an huyện Đ, theo nội dung đơn thì 02 cây xanh đã bị chặt hạ, đào gốc.
[3] Về căn cứ xác định chủng loại 02 cây xanh bị chặt hạ:
Ngày 15/4/2023, ông M, ông N chặt hạ 02 cây xanh; Sau hơn 10 tháng, ngày 22/02/2024, ông Trần H2 giao nộp 07 khúc gỗ.
Tại công văn số 436/YC-ĐTTH ngày 07/3/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ yêu cầu định giá tài sản với thông tin “02 (hai) cây xanh; Chủng loại: Sao xanh. Được trồng vào năm 2011, tại hành lang tuyến đường T, trước lô đất số 4 và 5, khu A...”
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 15KL-HĐĐGTS ngày 11/3/2024 của Hội đồng định gia tài sản trong tố tụng hình sự kết luận “02 Cây xanh, chủng loại Sao xanh. Được trồng vào năm 2011 tại hành lang tuyến đường Tăng Bạt Hổ trước lô đất số 04 và 05 khu A7 ………” có giá trị 2.940.000đ.
Tuy nhiên, theo văn bản số 53/CV-ĐTTH ngày 29/01/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ về việc đề nghị Ủy ban nhân dân huyện Đ cung cấp văn bản liên quan đến trồng cây xanh tại tuyến đường T vào năm 2012. Ngày 19/3/2024 Văn phòng HĐND và UBND huyện Đ đã có văn bản số 64/VP cung cấp các tài liệu liên quan đến việc phân khai nguồn vốn cho Đội quy tắc và dịch vụ đô thị thị trấn C và tài liệu là kế hoạch trồng, bảo vệ và chăm sóc cây xanh trên địa bàn thị trấn C.
Xem xét nội dung công văn có nhắc đến việc chi phí “Trồng, chăm sóc, cắt tỉa cây xanh các tuyến đường thị trấn C” hoặc theo Kế hoạch trồng, chăm sóc cây xanh trên địa bàn thị trấn C, số 10/KH-UBND ngày 02/5/2012 của UBND thị trấn C, nội dung nêu kế hoạch trồng dặm của năm 2011 và trồng mới, loại cây trồng là Sao xanh và Xà cừ. Trong đó có “...khu vực đường T (Đoạn từ tuyến 4 đến cổng bệnh viện); đường tuyến 4 (đoạn từ T đến T)...
Như vậy, khu vực trồng cây xanh có các chủng loại Sao xanh và Xà cừ được trồng mới và trồng dặm các năm 2011, năm 2012 và các năm sau đó. Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện bị hại xác nhận ngoài các tài liệu đã cung cấp thì không còn tài liệu nào khác để xác định 02 cây xanh bị chặt hạ, đào gốc là chủng loại gì.
Nay 02 cây xanh đã bị chặt hạ, đào gốc, chỉ còn 07 khúc gỗ do ông Trần H2 nộp. Do đó, cần trưng cầu giám định để xác định chủng loại gỗ, tuổi gỗ...mới định đúng giá trị 02 cây xanh bị chặt hạ làm căn cứ xem xét có đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội “Huỷ hoại tài sản” hay không và thuộc khung nào của điều luật. Vấn đề này cấp sơ thẩm chưa điều tra đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được. Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355, điểm b khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự, huỷ bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án để điều tra lại.
Do Cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm nên không xem xét kháng cáo của bị cáo. Các vấn đề có liên quan được xem xét khi giải quyết lại vụ án.
[3] Do bản án sơ thẩm bị huỷ nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355, điểm b khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 64/2024/HS-ST ngày 04 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Gia Lai để điều tra lại.
- Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo Nguyễn Quốc T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Kim Hồng |
Bản án số 16/2025/HS-PT ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về hình sự phúc thẩm (hủy hoại tài sản)
- Số bản án: 16/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự Phúc thẩm (Hủy hoại tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 64/2024/HS-ST ngày 04 tháng 11 năm 2024
