Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2025/HS-PT

Ngày 14/4/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Trung Kiên và ông Phạm Trung Thực.

Thư ký phiên toà: Bà Lê Thủy Quyên - Thẩm tra viên Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Phùng Thị Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 14/4/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2025/HSPT ngày 27 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo Cà Văn D, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 150/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của Toà án nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.

- Bị cáo có kháng cáo: Cà Văn D, sinh năm 1999; Nơi thường trú, nơi ở: Bản T, xã Ả, huyện M, tỉnh Điện Biên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Cà Văn D1 và bà Lò Thị M; tiền án, tiền sự: Không; Diên là Đảng viên, sinh hoạt tại Chi bộ bản Tọ Nọ, xã Ã, huyện M, tỉnh Điện Biên (Ngày 31/10/2024, Ủy ban kiểm tra huyện ủy M1 ra Quyết định đình chỉ sinh hoạt hoạt đảng đối với Cà Văn D); bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang được tại ngoại, (có mặt).

- Bị hại: Chị Trần Thị T, sinh năm 1986 (đã chết).

Đại diện của người bị hại: Anh Hoàng Đình D2, sinh năm 1988 (chồng chị T); trú tại: thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên, (vắng mặt).

Trong vụ án còn có 01 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Anh Lê Văn S, sinh năm 1988; HKTT tại: thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Hà Nam, là Tổ trưởng tổ công nhân làm cốt pha của Công ty V, địa chỉ: Tầng A, tòa nhà T, khu đô thị G, thuộc xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội. Chiều ngày 10/4/2023, tổ công nhân nói trên thực hiện tháo dỡ cốp pha, thanh dò dầm, cột chống trần tại tầng 5 của căn hộ P122.4, phân khu G, khu đô thị S, thuộc xã L, huyện V. Thực hiện việc tháo dỡ có các công nhân: Cà Văn D, sinh năm 1999; Quàng Văn C, sinh năm 1993, Lù Văn H, sinh năm 2002, đều có HKTT tại: Bản T, xã Ã, huyện M, tỉnh Điện Biên; Cà Văn L, sinh năm 1983 và Cà Văn P, sinh năm 2004, đều có HKTT tại: Bản H, xã Ằ, huyện M. Tất cả những người này đều được anh S thuê làm thời vụ, không có ký kết hợp đồng lao động. Cà Văn D được phân công tháo dỡ khu vực phía ngoài mép hiên tầng 5. Trong khi tháo dỡ, D đã tháo các cột chống đỡ và dể lại thanh đỡ dầm bằng kim loại, dạng hình hộp chữ nhật, kích thước được xác định (5x10)cm và dài 2m, ốp ở mép hiên tầng 5, chỉ còn treo bằng các vít đã lỏng; mục đích của D để sang ngày hôm sau, khi thu gom vật tư thì sẽ dùng gậy chọc vào thanh đỡ dầm cho rơi tự do từ trên xuống mà không phải bắc giàn giáo để tháo dỡ. Diên biết để như vậy thì thanh đỡ dầm có thể rơi bất cứ lúc nào, nhưng D cho rằng chỉ khi nào dùng gậy chọc vào thì thanh đỡ dầm mới rơi. Đến chiều ngày 11/4/2023, tổ công nhân của anh S tiếp tục thu gom các vật tư đã tháo dỡ từ hôm trước tại căn hộ P, bó lại thành các bó để cẩu tháp của Công ty V1 từ tầng 5 xuống đường, cho xe vận tải của công ty chở về kho. Khi thu gom vật tư, thì lưới an toàn quây phía trước căn hộ đã được tháo ra (không xác định được người tháo lưới). Diên được anh S phân công đứng ở vỉa hè phía trước cưa căn hộ P122.4 để trông coi, đảm bảo an toàn khi tháo dỡ, không cho người nào ra vào khu vực thi công. Khoảng 15 giờ cùng ngày, D thấy chị Trần Thị T, sinh năm 1986. HKTT: thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên đi nhặt sắt vụn đã vào khu vực mà D được giao trông coi. Diện đã nhắc nhở chị T 2 lần, bảo chị T đi ra khỏi khu vực đang thu dọn vật tư, nhưng chị T chỉ đứng vào trong tầng 1 của căn hộ P122.4 (tại vị trí giáp cửa ra vào) mà chưa đi ra khỏi khu vực thi công. Thấy chị T đứng vào bên trong căn hộ nên D không nhắc nhở chị T nữa, không tiếp tục yêu cầu chị T đi ra khỏi khu vực thi công. Ngay sau đó, D đã tự ý bỏ vị trí được giao trông coi, đi về phía khu vực tháp cẩu hạ vật tư cách đó khoảng 30m để xem việc cẩu hạ vật tư được khoảng 5m thì nghe thấy tiếng động mạnh, D quay lại nhìn về phía có tiếng động thì thấy thanh dỡ dầm bằng kim loại hình hộp chữ nhật cạnh (5 x 10)cm, dài 2m, ốp ở mép hiên tầng 5 trước đó đã rơi xuống trúng đầu chị T. Chị T nằm bất tỉnh ở vỉa hè trước cửa căn hộ P, đầu bị chảy máu. Thấy vậy, D đã điện thoại thông báo cho anh S và lực lượng bảo vệ của khu đô thị đến đưa chị T đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện V nhưng được xác định tử vong ngoại viện.

Ngay sau khi xảy ra vụ việc, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, phát hiện ở đám cát ẩm trong hố trồng cây trên vỉa hè có đám chất dịch màu nâu đỏ, thu giữ, niêm phong trong phong bì ký hiệu M. Rà soát khu vực hiện trường nhưng không phát hiện được thanh đỡ dầm bằng kim loại, dạng hình hộp chữ nhật có đặc điểm như D đã khai và không xác định được ai là người đã mang thanh đỡ dầm nói trên đi đâu. Cơ quan điều tra quyết định trưng cầu khám nghiệm tử thi để xác định nguyên nhân chết của chị Trần Thị T, thu mẫu máu (niêm phong trong phong bì ký hiệu M1), mẫu phủ tạng, thức ăn trong dạ dày; 01 mũ bảo hiểm, màu đỏ, đen (niêm phong trong phong bì ký hiệu lần lượt: M2, M3, M4, M5) dê gửi di giám định.

Tại các bản kết luận giảm định số 2726A/KL-KTHS, 2726B/KL-KTHS cùng ngày 27/4/2023 và số 2740/KL-KTHS ngày 12/5/2023 của V2 Bộ C1 kết luận: Trong mẫu phủ tạng, thức ăn trong dạ dày ghi thu của tử thi Trần Thị T (ký hiệu M2, M3, M4) gửi giám định không tìm thấy các chất độc thường gặp; các chất an thần gây ngủ, kim loại nặng độc. Mẫu chất màu nâu đỏ ghi thu tại hiện trường (ký hiệu M) là máu người và là máu của tử thi Trần Thị T. Bản kết luận giảm định tử thi số 85/KLGĐTT-PC09 ngày 05/5/2023 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận nguyên nhân chết của chị T là do: Chấn thương sọ não, vỡ xương hộp sọ; thể loại chết không tự nhiên.

Ngày 12/4/2023, D đã thăm hỏi, xin lỗi gia đình chị T và tác động nhờ anh Lê Văn S bồi thường cho gia đình chị T giúp D số tiền 250.000.000 đồng. Anh Hoàng Đình Đ, sinh năm 1988, HKTT: thôn N, xã T, huyện V là chồng chị T, đại diện gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền trên, có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho D.

Quá trình điều tra xác định Ban an toàn của Công ty V và anh Lê Văn S (có trách nhiệm quản lý tổ đội thi công) đã phân công nhiệm vụ cụ thể cho D là phải trông coi, dảm bảo an toàn ở khu vực thi công. Việc D tự ý dời khỏi khu vực được giao trông coi, đảm bảo an toàn thì anh S và các thành viên của Ban an toàn Công ty V không biết, nên không có căn cứ để xem xét xử lý.

Cơ quan điều tra cũng chưa làm rõ được ai là người đã tháo lưới an toàn của căn hộ P122.4 nên chưa có căn cứ để xử lý.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 150/2024/HS-ST ngày 11/12/2024, Tòa án nhân dân huyện Văn Giang đã quyết định:

Căn cứ: khoản 1 Điều 128; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều c khoản 2 Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều và diểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326 2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu ản phi và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Cà Văn D phạm tội Vô ý làm chết người.

Xử phạt: Cà Văn D 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày Cà Văn D đi chấp hành hình phạt.

Ngoài ra bản án còn quyết định về xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 24/12/2024, bị cáo Cà Văn D kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Cà Văn D thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và giữ nguyên kháng cáo. Bị cáo xuất trình giấy chứng nhận gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo; đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, xin được hưởng án treo, có xác nhận của chính quyền địa phương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xác định: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Cà Văn D về tội Vô ý làm chết người, theo khoản 1 Điều 128 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan; mức hình phạt 01 năm tù đối với bị cáo là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo xuất trình thêm tài liệu thể hiện gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo và có đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, xin được hưởng án treo, đơn có xác nhận của chính quyền địa phương, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới bị cáo được hưởng theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Cà Văn D đảm bảo về hình thức và trong thời hạn luật định, là kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2]. Về tội danh: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Cà Văn D thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã tuyên. Xét lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp khách quan với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ căn cứ xác định: Ngày 10/4/2023, trong quá trình thi công, tháo dỡ vật liệu xây dựng tại căn hộ P122.4 phân khu C khu đô thị S, thuộc xã N, huyện V, tỉnh Hưng Yên; Cà Văn D đã tháo các cột chống, nhưng để lại thanh đỡ dầm bằng kim loại, hình hộp chữ nhật cạnh (5x10) cm, dài 2m, ốp ở mép hiên tầng 5, chỉ còn gắn kết bằng các ốc vít đã lỏng. Ngày 11/4/2023, D được giao nhiệm vụ trông coi, đảm bảo an toàn ở khu vực vỉa hè trước cửa căn hộ P122.4 nhưng lại tự ý rời khỏi khu vực trông coi, để chị Trần Thị T đi vào khu vực thi công và bị thanh dỡ dầm nói trên rơi xuống trúng vào đầu, gây chấn thương sọ não, vỡ hộp sọ dẫn đến tử vong.

Bởi hành vi nêu trên, cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử bị cáo Cà Văn D về tội Vô ý làm chết người theo quy định tại khoản 1 Điều 128 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Cà Văn D, Hội đồng xét xử xét thấy:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi nhưng chỉ vì chủ quan, cho rằng hậu quả không xảy ra, đã tự ý rời khỏi vị trí trông coi, đảm bảo an toàn, để chị T đi vào khu vực thi công và bị thanh đỡ dầm bằng kim loại rơi xuống trúng vào đầu, gây chấn thương sọ não, vỡ hộp sọ dẫn đến tử vong. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

Khi quyết định hình phạt, Toà án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo đúng quy định; mức hình phạt 01 năm tù mà Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là có căn cứ. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo giao nộp tài liệu thể hiện gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo và có đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, đơn có xác nhận của chính quyền địa phương. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới bị cáo được hưởng theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống trong vùng kinh tế khó khăn; bị cáo phạm tội lần đầu với lỗi vô ý; bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng và có khả năng tự cải tạo. Đối chiếu với quy định tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự thì bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo cũng đảm bảo tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và thể hiện tính nhân đạo của pháp luật. Kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo là có căn cứ chấp nhận như quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tại phiên tòa.

[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5]. Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 343; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357; khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Cà Văn D. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 150/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.

Căn cứ khoản 1 Điều 128; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Xử phạt bị cáo Cà Văn D 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội Vô ý làm chết người, thời gian thử thách 02 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 14/4/2025.

Giao bị cáo Cà Văn D cho Ủy ban nhân dân xã Ằ, huyện M, tỉnh Điện Biên giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Bị cáo Cà Văn D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - Phòng HSNVCS-CA tỉnh Hưng Yên;
  • - TAND huyện Văn Giang;
  • - VKSND huyện Văn Giang;
  • - Chi cục THSDS huyện Văn Giang;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP, Tòa HC.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2025/HS-PT ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về vô ý làm chết người

  • Số bản án: 16/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vô ý làm chết người
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cà V D 128
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger