|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 16/2025/HS-PT Ngày 04/02/2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Lịnh
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Phong
Bà Trần Thị Chọn
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Quý - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Cẩm Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 02 năm 2025, tại Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 184/2024/TLPT-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Trần Trọng T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 159/2024/HS-ST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Bị cáo có kháng cáo: Trần Trọng T, sinh ngày 15/9/1985 tại thành phố B, tỉnh Bến Tre. Nơi thường trú: Khu phố C, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre (nơi ở hiện tại: Ấp C, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang); nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Trọng T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1951; chưa có vợ, con; tiền án: Ngày 05/05/2008, bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Tre, tỉnh Bến Tre xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo bản án số 51/2008/HS-ST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/9/2013, chưa được xóa án tích; ngày 10/02/2020, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 09 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”, tổng hợp hình phạt của hai tội là 03 năm 09 tháng tù, theo Bản án số 09/2020/HS-PT, chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/5/2023, chưa được xóa án tích; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 09/6/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 51/2016/HS-ST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/02/2017, đã xóa án tích; bị tạm giữ ngày 18/3/2024, tạm giam ngày 20/3/2024 đến nay (Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ ngày 14/03/2024, Trần Trọng T đi bộ ngang qua nhà bà Phạm Ngọc N thuộc ấp C, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang thấy không có người nên T nảy sinh ý định đột nhập vào nhà lấy trộm tài sản bán lấy tiền tiêu xài. T đi ra phía sau nhà nhìn thấy cửa sau không khóa nên đi vào phòng ngủ của bà N bằng cửa sau, lấy trộm 01 điện thoại hiệu Vivo V5S và 01 điện thoại hiệu S not 9 của bà N bỏ vào túi quần đi ra ngoài. T tiếp tục đi lên tầng 01 nhà bà N phát hiện có camera nên T lấy khăn tắm có sẵn trong nhà che người lại đến điều chỉnh camera quay đi hướng khác. Sau đó, T đi vào phòng ngủ của chị Chu Phạm Ngọc T2 lấy trộm 01 nhẫn tình hồng kim cương 2.5*2.ly, có đính 01 viên kim cương, tròn, mài giác AAA (SA), 2.5*2.5, hàm lượng vàng 750, khối lượng đá: 0,0037 chỉ, Trọng lượng vàng: 0,6986 chỉ; 01 nhẫn tình hồng Diamond31 2.9*2.9ly, có đính 01 viên kim cương, tròn, mài giác AAA (SA), 2.9*2.9, hàm lượng vàng 750, khối lượng đá: 0,0054 chỉ, trọng lượng vàng: 1,0371 chỉ và 01 chai nước hoa nhãn hiệu ARMAF của chị T2 bỏ vào túi quần đi ra ngoài thì gặp em Chu Phạm Ngọc N1. T nắm tay của N1 kéo vào phòng ngủ của chị T2 đóng cửa lại và đi ra ngoài bằng cửa sau về nhà chị Vũ Thị Thanh H1 (là người sống chung như vợ chồng với T tại ấp C, xã C, thành phố P) cất giấu tài sản lấy trộm được.
Đến khoảng 20 giờ ngày 16/3/2024, T điều khiển xe mô tô biển số 59L1-299.17 của chị H1 và mang theo 02 nhẫn vàng trộm được chở chị H1 đến tiệm V, phường D, thành phố P. Khi đến nơi, T đưa cho chị H1 02 chiếc nhẫn đi vào bán (chị H1 không biết tài sản do T trộm cắp mà có). Do không có giấy tờ nên không bán được 02 nhẫn, sau đó chị H1 và T cùng đi ra. Lúc này Công an phường D đến, thấy có Công an nên T lên xe mô tô bỏ chạy, H1 đứng lại trên tay đang cầm 02 nhẫn vàng của T đưa.
Vật chứng đã thu giữ gồm:
- + 02 nhẫn tròn bằng kim loại màu vàng (không rõ trọng lượng), trên nhẫn có đính hạt màu trắng, phía trong có khắc chữ “P - T2”.
- + 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Air Blade, màu trắng đen, số khung: F1807Y531321, số máy: JF18E5031608, biển số 59L1-299.17, đã qua sử dụng.
- + 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Vivo màu trắng, imei 1: 864835038978692; imei 2: 864835038978684, đã qua sử dụng.
- + 01 (một) chai nước hoa màu trắng, nắp chai có màu vàng, nhãn hiệu ARMAF.
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, có Imei 1: 352141101123327; Imei 2: 352142101123325, mặt lưng điện thoại bị nứt vỡ đã qua sử dụng.
- + 01 (một) quần thể thao bằng vải màu đen, có giây thắt lưng, hai bên ống quần có 03 viền sọc màu trắng, size 4XL, dạng quần có hai túi có khóa dây kéo. đã qua sử dụng.
- + 01 (một) cái áo sơ mi tay dài, sọc ca rô, màu xanh đen, trên cổ áo có in dòng chữ "* Si Te" size: XL. đã qua sử dụng.
- + 01 (một) cái hột quẹt ga màu đen, có in dòng chữ “BIC". Đã qua sử dụng.
- + 01 (một) khẩu trang bằng vải, màu xám, trên khẩu trên có in chữ “TUÂN HUY" đã qua sử dụng.
- + 01 (một) cái nón kết bằng vải, màu đen, trên nón có dòng chữ màu trắng đã qua sử dụng.
- + 01 (một) đôi dép tổ ong màu trắng sữa, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng.
- + 01 (một) điện thoại Oppo màu đen, không rõ số Imei, tình trạng máy: không mở nguồn được.
* Tại bản kết luận giám định số 1088/KL-KTHS ngày 25/4/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
- - 02 (hai) chiếc nhẫn gắn hạt đá trắng được niêm phong gửi giám định có tổng khối lượng (bao gồm cả đá): 6,541 gam; có chứa các thành phần Vàng (A), B (A), Đ (Cu). Hàm lượng trung bình: Vàng (A): 75,81%; Bạc (Ag): 1,28%; Đ (Cu): 22,91%.
* Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 46/KL-HDDGTS ngày 05 tháng 6 năm 2024 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự thành phố P, kết luận:
- - Giá trị 01 (một) nhẫn tình hồng kim cương 2.5*2.5ly, có đính 01 viên kim cương, tròn, mài giác AAA (SA), 2.5*2.5. Hàm lượng vàng 750, khối lượng đá: 0,0037 chỉ, Trọng lượng vàng: 0,6986 chỉ là 5.512.000 đồng (Năm triệu năm trăm mười hai nghìn đồng).
- - Giá trị 01 (một) nhẫn tình hồng Diamond31 2.9*2.9 ly, có đính 01 viên kim cương, tròn, mài giác AAA (SA), 2.9*2.9, hàm lượng vàng 750, khối lượng đá: 0,0054 chỉ, trọng lượng vàng: 1,0371 chỉ là 8.249.600đ (Tám triệu hai trăm bốn mươi chín nghìn sáu trăm đồng).
- - Giá trị 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo V5S, màu trắng, imei 1: 864835038978692; imei 2: 864835038978684 là 467.000đ (Bốn trăm sáu mươi bảy ngàn đồng).
- - Giá trị 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy not 9, 512GB, màu đen, có Imei 1: 352141101123327; Imei 2: 352142101123325, mặt lưng điện thoại bị nứt vỡ là 2.933.000 đồng (Hai triệu chín trăm ba mươi ba nghìn đồng).
- - Giá trị 01 (một) chai nước hoa nhãn ARMAF màu trắng, có nắp chai màu vàng là 1.122.000đ (Một triệu một trăm hai mươi hai nghìn đồng).
Tổng giá trị tài sản Trần Trọng T chiếm đoạt của các bị hại có giá trị là 18.283.000đ (Mười tám triệu, hai trăm tám mươi ba nghìn đồng).
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 159/2024/HS-ST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang quyết định:
- - Tuyên bố bị cáo Trần Trọng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- - Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Trọng T 04 năm tù.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và báo quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 29/9/2024, bị cáo Trần Trọng T có đơn kháng cáo với nội dung yêu cầu giảm hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Bị cáo T có ý kiến giữ nguyên nội dung kháng cáo.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang có ý kiến đề nghị căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo:
Xét đơn kháng cáo của bị cáo về nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về quyết định của bản án sơ thẩm:
Ngày 14/3/2024, bị cáo Trần Trọng T lén lút chiếm đoạt tài sản của các bị hại, theo kết luận định giá có giá trị là 18.283.000đ. Trong khi bản thân bị cáo có 02 tiền án chưa được xóa án tích. Do đó, cấp sơ thẩm truy tố, xét xử và kết án bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo:
Xét thấy bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án và phải chấp hành hình phạt tù nhưng lại không tu sửa mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội lần này của bị cáo thuộc điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 02 đến 07 năm tù, cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 04 năm tù là tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội, đồng thời đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ bị cáo được hưởng và có xem xét đến đặc điểm nhân thân của bị cáo. Bị cáo kháng cáo xin giảm hình phạt nhưng không có thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không có cơ sở để chấp nhận.
Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét đến.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Trọng T, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 159/2024/HS-ST, ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Trần Trọng T 04 (bốn) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị tạm giữ (ngày 18/3/2023).
- Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo Trần Trọng T phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm số: 159/2024/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Võ Văn Lịnh |
Bản án số 16/2025/HS-PT ngày 04/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 16/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Trọng T trộm điện thoại và vàng của bị hại bị bắt...
