Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 16/2025/HS-PT

Ngày: 03/12/2025

Ngãi.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Vũ Văn Thuấn.

Các Thẩm phán:Ông Nguyễn Hành .

Bà Lê Thị Mỹ Giang

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hồ Huyền Trâm - Thư ký TAND tỉnh Quảng Ngãi.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Huy Bình - Kiểm sát viên trung cấp.

Trong ngày 03-12-2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 18/2025/TLPT-HS ngày 27/10/2025 đối với bị cáo Nguyễn Tấn T, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tấn T đối với bản án hình sự sơ thẩm số 46/2025/HS-ST ngày 11/9/2025 của TAND khu vực 2 – Quảng Ngãi.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Tấn T, sinh ngày 07-8-1984 tại tỉnh Quảng Ngãi. Nơi đăng ký thường trú: Thôn N, xã B (xã B, huyện B cũ), tỉnh Quảng Ngãi. Chỗ ở: Thôn N, xã B (xã B, huyện B cũ), tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Công nhân; căn cước số: [...] cấp ngày 19-11-2024; trình độ học vấn: 10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Tấn Đ (chết) và bà Phạm Thị T1; vợ là Phạm Thị Phương T2, có 01 con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05-5-2025 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 28/12/2024, Phạm Q đến nhà Nguyễn Tấn T tại thôn N, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi nhậu cùng một số người bạn. Đến khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, nhóm của Q và T ngừng nhậu và cùng nhau đi đánh B tại thôn N, xã B. Trong quá trình đánh B, giữa Quyền và T xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau nên Q bỏ đi về trước nhưng Q không về nhà mà đến nhà của ông nội của C - người bạn cùng đánh bida với Q để nhậu. Sau đó T cùng với C cũng nghỉ đánh bida đi về nhà nội của C thì gặp Q, tại đây T nhìn Q thì Quyền thách thức “đánh tay đôi thì đánh chứ nhìn gì” nhưng được mọi người khuyên ngăn nên T bỏ đi về và tiếp tục nhậu với một số người khác tại nhà của T. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, do vẫn còn bực tức chuyện Quyền dọa đánh mình nên T gọi điện thoại cho Q để thách thức Q đánh nhau thì Q đồng ý đánh nhau. Một lúc sau Quyền đi bộ một mình đến gần khu vực đường bê tông phía trước nhà T và gọi T “mầy ra đây” thấy vậy, T từ trong nhà đi ra, đồng thời nhặt 01 miếng gạch đã bị vỡ cầm trên tay phải đến nói chuyện với Q. Tại đây, giữa T và Q tiếp tục cãi nhau, Q dùng tay nắm cổ áo T nên T cầm gạch đánh trúng 01 cái vào vùng trán, 01 cái trúng vào mũi Quyền làm viên gạch rớt xuống đường, Quyền chống trả nhưng thất thế nên ngã xuống ruộng, sau đó T dùng tay đánh trúng vùng mặt của Q, Q bị thương tích chảy máu ở vùng mũi rồi được mọi người can ngăn ra. Quyền tự đi về nhà và người thân đưa đến Bệnh viện Đ1 điều trị.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 54/KLTTCT-TTPY ngày 17/3/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh Q, kết luận thương tích của Phạm Q như sau:

  • - Gãy xương chính mũi không ảnh hưởng chức năng thở: 08%.
  • - Sẹo vũng mũi kích thước (1x0,4)cm: 03%.
  • - Cơ chế hình thành các tổn thương trên do vật tày tác động trực tiếp.

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Q tại thời điểm giám định là 11% (mười một phần trăm).

Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2025/HS-ST ngày 11/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Quảng Ngãi đã xét xử sơ thẩm và quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tấn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, xử lý vật chứng, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 15/9/2025, bị cáo Nguyễn Tấn T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ.

Tại phiên tòa xét xử phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Tấn T vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo và xin Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo hưởng án treo để bị cáo có cơ hội học tập, cải tạo và còn giúp đỡ cho gia đình có hoàn cảnh khó khăn.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tấn T và đề nghị giải quyết vụ án như sau:

Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo về trình tự thủ tục, thời hạn và thẩm quyền đúng theo quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nội dung: Căn cứ vào hành vi, tính chất mức độ phạm tội của bị cáo. Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo về tội “cố ý gây thương tích” và xử phạt bị cáo 15 ( mười lăm) tháng tù là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên xét kháng cáo của bị cáo và tại cấp phúc thẩm bị cáo xin được giảm nhẹ và cung cấp thêm một số tình tiết mới đó là: Xác nhận của ông Nguyễn Duy C1, nguyên là Phó trưởng Công an xã B xác nhận năm 2015 Nguyễn Tấn T đã có công trong việc bắt giữ 2 đối tượng trộm cắp và báo cho Công an đến lập hiện trường để giải quyết. Xác nhận được chứng thực của UBND xã B, tỉnh Quảng Ngãi; Đơn xác nhận của UBND xã B về việc, trước khi phạm tội cố ý gây thương tích, thì từ trước tới nay bị cáo làm ăn sinh sống tại địa phương, luôn chấp hành tốt pháp luật, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, nuôi mẹ già là bà Phạm Thị T1 sinh năm 1954, bị cáo có con nhỏ Nguyễn Thị Thảo N sinh năm 2017, hiên vợ bị cáo đang mang thai con thứ 2 được 6 tháng tuổi, nên mọi chi phí sinh hoạt đều phụ thuộc vào lao động của bị cáo, xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa án sơ thẩm về phần hình phạt, giữ nguyên mức án là 15 tháng tù, nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tấn T trong thời hạn luật định là kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm, bị cáo cùng người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo, tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Tấn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở để khẳng định:

Nguyễn Tấn T và Phạm Q nhà ở gần nhau tại thôn N, xã B, tỉnh Quảng Ngãi, sau khi cùng nhau ăn nhậu, đi đánh bida rồi xảy ra mâu thuẫn thì hai bên thách thức đánh nhau nhưng được mọi người can ngăn, khi về nhà T vẫn còn bực tức nên điện thoại rủ Q đánh nhau thì Q đồng ý, Q đi bộ đến nhà T gọi T ra để đánh nhau, khi T ra đến sân có nhặt miếng gạch vỡ cầm theo, rồi hai bên xảy ra tranh cãi, Quyền dùng tay nắm cổ áo T nên T dùng miếng gạch vỡ đánh vào mặt Q 2 cái làm anh Q bị gãy xương chính mũi với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 11%.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Tấn T đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Toà án nhân dân cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Tấn T về tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ của bị cáo Nguyễn Tấn T:

Về nhân thân, bị cáo Nguyễn Tấn T có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, đã bồi thường cho bị hại 16.200.000 đồng, Bị hại cũng thừa nhận có một phần lỗi nên bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo được hưởng và xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù là có căn cứ và phù hợp với tính chất mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm tài liệu chứng cứ là đơn xin giảm nhẹ hình phạt của bị hại Phạm Quyền đề ngày 21/11/2025, về nội dung này đã được cấp sơ thẩm xem xét và đã áp dụng cho bị cáo được hưởng. Ngoài ra bị cáo còn cung cấp thêm đơn xác nhận của ông Nguyễn Duy C1, nguyên là Phó trưởng Công an xã B xác nhận năm 2015 Nguyễn Tấn T đã có công trong việc bắt giữ 2 đối tượng trộm cắp tài sản và báo cho Công an đến lập hiện trường để giải quyết, được chính quyền UBND xã B, tỉnh Quảng Ngãi chứng thực; Đơn xác nhận của UBND xã B về việc, trước khi phạm tội cố ý gây thương tích, thì từ trước tới thời điểm phạm tội bị cáo làm ăn sinh sống tại địa phương, luôn chấp hành tốt pháp luật, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, nuôi mẹ già là bà Phạm Thị T1 sinh năm 1954, bị cáo có con nhỏ Nguyễn Thị Thảo N sinh năm 2017, vợ bị cáo đang mang thai con thứ 2 được 6 tháng tuổi, nên mọi chi phí sinh hoạt đều phụ thuộc vào lao động của bị cáo.

Xét thấy bị cáo Nguyễn Tấn T và bị hại Phạm Q, là hàng xóm, thường ngày hai người vẫn chơi chung, đoàn kết, không có mâu thuẫn gì với nhau, sự việc xô xát dẫn đến hành vi cố ý gây thương tích cho bị hại, cũng xuất phát từ việc các bên đã uống rượu, khi có tranh cãi với nhau trong lúc chơi lúc chơi BIDA các bên đã bộc phát mẫu thuẫn, không kìm nén được, hành vi phạm tội của bị cáo cũng có một phần lỗi của bị hại. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo có cung cấp thêm những tình tiết giảm nhẹ mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt xin hưởng án treo đối với bị cáo, để bị cáo thấy được tính khoan hồng của pháp luật mà tích cực học tập, cải tạo để trở thành người có ích cho xã hội. Bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, thấy rằng không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ tác dụng răn đe giáo dục và phòng ngừa chung. Xét thấy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tỉnh Quảng Ngãi là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận sửa án sơ thẩm về phần hình phạt, giữ nguyên mức hình phạt tù đã tuyên của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 tháng tù, nhưng cho bị cáo hưởng án treo và tuyên thời gian thử thách đối với bị cáo theo quy định của pháp luật.

[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Nguyễn Tấn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét và có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015;

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tấn T. Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2025/HS-ST ngày 11/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 2 – Quảng Ngãi về phần hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo.

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn T phạm tội “Cố ý gây thương tích

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn T 15 “Mười lăm” tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 “ Ba mươi” tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (03/12/2025). Giao bị cáo Nguyễn Tấn T cho Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh Quảng Ngãi để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Nguyễn Tấn T không phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (03/12/2025).

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT I, TANDTC.
  • - VKSND tỉnh Quảng Ngãi
  • - VKSND, TAND, Phòng
  • THADS KV2 – Quảng Ngãi;
  • - Phòng HSNV Công an T. Quảng Ngãi;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Thuấn

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2025/HS-PT ngày 03/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 16/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 03/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xét xử phúc thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger