Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SƠN LA

TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 16/2025/HNGĐ - ST

Ngày 30/5/2025.

V/v: Tranh chấp xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: ông Lê Lương Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lò Thị Quỳnh .
  2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan.

- Thư ký phiên toà: ông Đào Ngọc Sơn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên tòa:

bà Lê Thị Mai Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 59/2025/TLST- HNGĐ, ngày 06 tháng 02 năm 2025 về việc: Tranh chấp xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐXXST – HNGĐ, ngày 14 tháng 5 năm 2025, giữa:

- Nguyên đơn: chị Quàng Thị D, sinh năm 1991. Địa chỉ: bản H, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Có mặt.

- Bị đơn: anh Cà Văn T, sinh năm 1986. Địa chỉ: bản G, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La. Hiện nay đang bị Cơ quan điều tra Công an tỉnh S truy nã. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và các ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Quàng Thị D trình bày:

Chị và anh Cà Văn T kết hôn với trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La vào ngày 10/02/2011. Trong thời gian chung sống vợ chồng chỉ hòa thuận được một thời gian, thì phát sinh mâu thuẫn do anh T không chịu khó tu trí làm ăn, không quan tâm đến vợ con. Đến năm 2019 thì anh T có hành vi trộm cắp tài sản, bị Cơ quan điều tra Công an thành phố S ban hành lệnh truy nã, anh T đã bỏ trốn từ đó đến nay không có tin tức gì, nay chị Quàng Thị D xác định cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài thêm nữa, nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn.

Về con chung:

Anh chị có 01 con chung là cháu Cà Bảo T1, sinh ngày 31/12/2011, chị có nguyện vọng nuôi cháu Bảo T1 đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động. Chị D không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung:

- Không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, đương sự đã cung cấp cho Tòa án những tài liệu, chứng cứ gồm: Đơn khởi kiện về việc xin ly hôn; Giấy chứng nhận kết hôn (bản gốc); Bản tự khai chị D; Giấy xác nhận thông tin nơi cư trú (bản sao); Căn cước công dân (bản sao); Giấy khai sinh cháu Bảo T1 (bản sao); Đơn xin không tiến hành hòa giải của chị D;

Tài liệu do Tòa án thu thập gồm: Biên bản ghi ý kiến cháu Bảo T1; Biên bản xác minh chính quyền bản G, phường Q; Biên bản xác minh tại Công an phường Q, thành phố S; Biên bản xác minh thân nhân của anh T (chị dâu Lò Thị D1 sinh sống cùng gia đình mẹ đẻ anh T); Biên bản niêm yết các tài liệu tố tụng; Thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú cùng các tài liệu liên quan đến thông báo tìm kiếm người vắng mặt; Các tài liệu của các vụ, việc dân sự khác liên quan đến

Quá trình giải quyết vụ án, chị Lò Thị D2 có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải và do anh T đang bị truy nã, không có mặt tại địa phương nên thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được, vì vậy vụ án được đưa ra xét xử.

Tại biên bản xác ngày 06/02/2025 đối với ông Lường Duy T2 – Cán bộ Cảnh sát khu vực phụ trách địa bàn, xác định anh T có hành vi trộm cắp tài sản nên đã bỏ trốn cho đến nay đã được khoảng 5 năm, anh T không còn ở địa phương, không rõ anh T đang ở đâu.

Tại biên bản xác minh ngày 07/02/2025 đối với chị Lò Thị D1 (chị dâu của anh Cà Văn T, đang sinh sống cùng mẹ đẻ anh T) xác định anh T đã bỏ nhà đi được khoảng 5 năm, không còn liên hệ được nữa, gia đình đã tìm kiếm nhưng không có kết quả.

Tại biên bản xác minh đối với ông Cà Văn T3 – Trưởng bản G, phường Q, Thành phố S, xác nhận khoảng 5 năm trước anh T có hành vi trộm cắp tài sản nên đã bỏ trốn và bị cơ quan Công an truy nã, từ đó đến nay không còn ở địa phương, không biết anh T ở đâu. Hiện nay anh T vẫn chưa về nhà và chưa có thông tin của cơ quan chức năng đã bắt giữ được anh T.

Tòa án đã tiến hành thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với anh T trên các phương tiện thông tin đại chúng như Báo Công L; Đài Tiếng nói V và đăng thông báo trên cổng thông tin điện tử của ngành Tòa án để tìm kiếm anh T về giải quyết việc ly hôn nhưng không có kết quả.

Tại phiên tòa chị Quàng Thị D giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn và xin được trực tiếp nuôi con chung.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đều đảm bảo đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ khoản 1điều 51, khoản 1 điều 56, điều 81, điều 82, điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 điều 147, khoản 2 điều 227, khoản 3 điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 3 điều 40 Bộ luật Dân sự; điểm a khoản 1 điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, Lệ phí Toà án.

Về quan hệ hôn nhân:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về của chị Quàng Thị D, xử cho chị Quàng Thị D được ly hôn với anh Cà Văn T.

Về con chung:

Giao cháu Cà Bảo T1, sinh ngày 31/12/2011 cho chị Quàng Thị D được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu trưởng thành (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động.

Về cấp dưỡng nuôi con chung:

Anh Cà Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung vợ chồng:

Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản riêng:

Không có.

Về nợ chung:

Chị Quàng Thị D cam đoan không có nợ chung.

Về án phí và chi phí tố tụng:

Chị Quàng Thị D chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà và các quy định của pháp luật. Tòa án phân tích, đánh giá, nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

- Chị Quàng Thị D sinh sống tại thành phố S khởi kiện ly hôn anh Cà Văn T có địa chỉ: bản G, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La, được xác định là vụ án hôn nhân gia đình tranh chấp về ly hôn.

Anh T đang bị Cơ quan chức năng truy nã đến nay được khoảng 05 năm và hiện không có mặt tại địa phương, Tòa án đã thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú trên các phương tiện thông tin địa chúng và đã niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi cư trú cuối cùng của anh T, tuy nhiên anh T không có ý kiến hay về Tòa án để giải quyết việc ly hôn giữa chị Quàng Thị D và anh. Căn cứ khoản 1 điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự có đủ căn cứ để xét xử vắng mặt bị đơn anh Cà Văn T.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

- Chị Quàng Thị D và anh Cà Văn T kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được Ủy ban nhân dân phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 10/02/2011, như vậy hôn nhân giữa chị D và anh T là hôn nhân hợp pháp.

Về lý do ly hôn: Sau khi kết hôn anh chị chung sống hòa thuận được một thời gian thì anh T bỏ nhà đi được mấy năm rồi về nhà, sau đó khoảng năm 2019 anh Cà Văn T có hành vi trộm cắp tài sản và đã bỏ trốn, hiện anh T đang bị cơ quan chức năng truy nã cho đến nay không còn liên hệ với gia đình vợ con, chị Quàng Thị D xác định cuộc sống hôn nhân giữa chị và anh T không thể tiếp tục thêm nữa, đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn.

Xét thấy: Anh Cà Văn T từ năm 2019 cho đến nay đã không còn liên hệ với gia đình vợ con, gia đình cũng như chính quyền địa phương không biết hiện nay anh đang ở đâu. Tòa án đã tiến hành thông báo tìm người vắng mặt tại địa phương, để về giải quyết việc chị Quàng Thị D có yêu cầu ly hôn, nhưng đến nay anh T vẫn không có ý kiến, hoặc có thông tin anh có mặt tại địa phương, việc chị D xác định cuộc sống vợ chồng không còn, xét thấy nguyện vọng của chị là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Cần chấp nhận xử cho chị Quàng Thị D được ly hôn anh Cà Văn T.

[3] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con:

- Anh chị có một con chung cháu là Cà Bảo T1, sinh ngày 31/12/2011. Chị D có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Bảo T1 đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động, mặt khác cháu T1 có nguyện vọng xin được ở với chị D, chị D là người trưởng thành, có đủ khả năng lao động để chăm lo cho cháu T1. Hiện nay anh Cà Văn T đã bỏ nhà đi, không có mặt tại địa phương. Để đảm bảo quyền lợi của cháu Bảo T1, do vậy cần giao cháu T1 cho chị D trực tiếp, chăm sóc, giáo dục con chung. Ghi nhận sự tự nguyện của chị D không yêu cầu anh Cà Văn T phải cấp dưỡng nuôi con chung.

[4] Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung:

Không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về chi phí, lệ phí Tòa án:

- Chị Quàng Thị D phải chịu toàn bộ tiền chi phí, lệ phí Tòa án (chi phí đăng thông báo tìm người vắng mặt tại địa phương) là 4.544.000 đồng (Bốn triệu năm trăm bốn mươi bốn nghìn đồng). Quá trình làm thủ tục đăng thông tin tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, chị D đã nộp tạm ứng chi phí là 5.500.000,đ. Tòa án đã trả lại cho chị D số tiền 956.000,₫ (Chín trăm năm mươi sáu ngàn đồng) tạm ứng lệ phí đã nộp.

[6] Về án phí:

Căn cứ quy định tại điểm a khoản 5; điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, Lệ phí Toà án. Chị Quàng Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng.

[7] Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị Quàng Thị D và anh Cà Văn T có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điều 51; khoản 1 điều 56; điều 58, khoản 3 điều 81, điều 82 và điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39, khoản 4 điều 147, khoản 1 điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, Lệ phí Toà án:

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Quàng Thị D.

  1. Xử cho chị Quàng Thị D được ly hôn anh Cà Văn T.
  2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con:
    • - Giao cho chị Quàng Thị D được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Cà Bảo T1, sinh ngày 31/12/2011 đến khi cháu đủ tuổi trường thành (18 tuổi) và có khả năng lao động.
    • Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung.
    • - Anh Cà Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
  3. Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về chi phí tố tụng: Chị Quàng Thị D phải chịu toàn bộ tiền chi phí, lệ phí Tòa án (chi phí đăng thông báo tìm người vắng mặt tại địa phương) là 4.544.000 đồng (Bốn triệu năm trăm bốn mươi bốn nghìn đồng) (chị đã nộp đủ).
  5. Về án phí: Chị Quàng Thị D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002619, ngày 06/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
  6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị Quàng Thị D có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 30/5/2025), anh Cà Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi gửi:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND thành phố Sơn La (2);
  • - Chi cục THADS thành phố Sơn La;
  • - UBND phường Chiềng An,
  • TP Sơn La (nơi đăng ký kết hôn);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS; AV;

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(đã ký)

Lê Lương Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2025/HNGĐ - ST ngày 30/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về tranh chấp xin ly hôn

  • Số bản án: 16/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vụ án thụ lý số: 59/2025/TLST- HNGĐ, ngày 06 tháng 02 năm 2025 về việc: Tranh chấp xin ly hôn,
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger