|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số: 16/2025/HNGĐ-ST Ngày 27-6-2025 V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Huy.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Thanh Tùng;
- Ông Nguyễn Thoại .
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hồng-Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị: Bà Phạm Hoàng Thủy Tiên - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị (địa chỉ: Số D-L, thành phố Đ) Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 65/2025/TLST-HNGĐ ngày 21/4/2025, về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXX-ST ngày 11/6/2025 v Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2025/QĐST-HNGĐ ngày 19/6/2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Hà C; sinh năm: 1987;
Địa chỉ: Số A- H, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Trần Đức T, sinh năm 1985;
Địa chỉ: Số A- H, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
[I] Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Lê Thị Hà C (bà C), trình bày:
(1) Về quan hệ hôn nhân: Bà C với ông Trần Đức T (ông T) kết hôn tự nguyện, đăng ký kết hôn vào ngày 30/8/2010 tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Thời gian đầu vợ chồng sống với nhau hòa thuận, hạnh phúc nhưng 03 năm gần đây thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp và ông T thiếu trách nhiệm trong việc chăm lo đời sống kinh tế gia đình. Mặc dù hai bên đã nhiều lần cố gắng hàn gắn, gia đình hai bên thì khuyên nhủ nhưng không có kết quả nên từ tháng 3/2025 đến nay, bà C với ông T bỏ mặc nhau, mỗi bên tự lo toan cuộc của mình.
Bà C xác định tình cảm vợ chồng không còn mong muốn Tòa án giải quyết cho B được ly hôn với ông T.
(2) Về con chung: Theo bà C, vợ chồng Bà có hai con chung là cháu Trần Đức H, sinh ngày 09/3/2011 (cháu H) và cháu Trần Đại N, sinh ngày 22/4/2016 (cháu N). Ly hôn, bà C có nguyện vọng được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N; giao ông T quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con.
(3) Về tài sản chung và nợ chung: Bà C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
(4) Tại phiên tòa: Bà C thay đổi yêu cầu khởi kiện về quyền nuôi con chung, cụ thể: Bà có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu H, Nam; không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
[II] Bị đơn là ông Trần Đức T. Ông T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp, phiên hòa giải, nhưng ông T không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà C cho Tòa án và không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.
[III] Quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
(1) Về tố tụng:
- Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và tư cách tham gia tố tụng của đương sự trong vụ án là đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự.
- Thẩm phán, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định về pháp luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử. Đối với bị đơn không thực hiện đúng theo quy định tại Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
(2) Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà C với ông T là hợp pháp; Mâu thuẫn vợ chồng bà C, ông T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, không có khả năng cải thiện nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà C.
- Về con chung: Yêu cầu của bà C là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà C.
- Về tài sản chung: Bà C không yêu cầu Tòa án giải quyết, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
(3) Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bà C phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[I] Về tố tụng:
(1) Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà C khởi kiện yêu cầu được ly hôn ông T và có nguyện vọng được nuôi con. Ông T đang cư trú tại thành phố Đ nên Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà thụ lý, giải quyết là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
(2) Về việc xét xử vắng mặt bị đơn: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng liên quan đến việc mở phiên tòa cho đến lần thứ hai cho bị đơn nhưng bị đơn vẫn vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai mà không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử trong trường hợp vắng mặt bị đơn.
(3) Về giới hạn xét xử: Nguyên đơn thay đổi yêu cầu quyền được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung, thấy: Yêu cầu thay đổi của nguyên đơn không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu được quy định tại khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên cần chấp nhận để xem xét
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn nhưng bị đơn không gửi cho Tòa án Văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vắng mặt tại các phiên họp, hòa giải do Tòa án tổ chức và vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử chỉ căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa để xem xét, giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
[II] Về nội dung:
(1) Về quan hệ hôn nhân:
- Bà C và ông T kết hôn tự nguyện, đăng ký kết hôn vào ngày 30/8/2010 tại Ủy ban nhân dân Phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị nên hôn nhân giữa bà C và ông T là hợp pháp.
- Tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, có căn cứ để xác định: Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn giữa bà C và ông T là do tính tình không hợp và ông T thiếu trách nhiệm trong việc chăm lo đời sống kinh tế gia đình.
- Quá trình giải quyết vụ án, ông T không đến Tòa án để hòa giải, vắng mặt lần thứ 02 tại phiên tòa. Việc ông T vắng mặt tại 02 phiên hòa giải cũng như tại phiên tòa đã thể hiện ý thức “bỏ mặc tình trạng hôn nhân”.
Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Tình trạng hôn nhân của vợ chồng bà C, ông T đã lâm vào trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình để xử cho bà C được ly hôn ông T.
(2) Về con chung:
Bà C với ông T có 02 con chung là cháu H và cháu N, xét yêu cầu của bà C, thấy: Bà C có đủ điều kiện cơ bản khi được giao quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H và cháu N. Ngoài ra, bà C trực tiếp chăm sóc, nôi dưỡng hai cháu từ tháng 3/2025 đến nay.
Quá trình giải quyết vụ án, ông T bỏ mặc và vắng mặt tại phiên tòa nên cần chấp yêu cầu của bà C, giao cho Bà được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H và cháu N.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà châu không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
(3) Về tài sản chung và nợ chung: Bà C, ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[IV] Về án phí: Bà C phải phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 56; khoản 2 Điều 81; khoản 3, Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án,
Xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Hà C.
1. Về quan hệ hôn nhân:
Bà Lê Thị Hà C được ly hôn ông Trần Đức T (Giá trị pháp lý của Giấy chứng nhận kết hôn số: 18, quyển số 01/2010 do UBND phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, cấp ngày 30/8/2010, chấm dứt kể từ bản án này có hiệu lực pháp luật).
2. Về con chung:
Giao cho bà Lê Thị Hà C quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Trần Đức H, sinh ngày 09/3/2011 và cháu Trần Đại N, sinh ngày 22/4/2016.
Ông Trần Đức T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, ông Trần Đức T có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở ông T thực hiện quyền này.
3. Về tài sản chung:
Không xem xét, giải quyết
4. Về án phí:
Bà Lê Thị Hà C phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai số: 0000052 ngày 17 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà (Bà C đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm).
5. Quyền kháng cáo:
Bà Lê Thị Hà C có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Ông Trần Đức T có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:
|
Trần Quốc Huy |
Bản án số 16/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ về tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 16/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn và nuôi con giữa Lê Thị Hà C - Trần Đức Tuyến