|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2025/HNGĐ - ST | |
| Ngày: 27/6/2025 | |
| “ V/v: Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Hồng Thái
- - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Văn Hoàn
- 2. Bà Nguyễn Thị Nguyệt
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hoài – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Chinh – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025 tại Hội trường xét xử, Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 22/2025/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2025 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐXX-ST ngày 14 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1971;
- Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân T, sinh năm 1972;
Nơi cư trú: xóm B, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
(Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Nơi cư trú: xóm B, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
(Vắng mặt lần thứ 2 không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, Nguyên đơn - Chị Nguyễn Thị L trình bày: Tháng 1/1993 chị kết hôn với anh Nguyễn Xuân T. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện và Đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện S, thành phố Hà Nội, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại gia đình nhà bố mẹ chồng tại S thành phố Hà Nội, sau đó chuyển về xóm B xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên ở. Quá trình chung sống, thời gian đầu, vợ chồng sống vui vẻ hạnh phúc, đến năm 2014 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung nên vợ chồng thường xuyên xảy ra xô sát cãi vã, lăng mạ nhau, lý do chị ly hôn do anh T chơi bời, không chịu làm ăn để chăm lo cho vợ con, chăm lo cho gia đình mà để chị một mình phải bươn trải kiếm sống, đi làm thuê, làm mướn để có tiền trang trải cuộc sống gia đình. Chị có khuyên can anh T nhiều lần nhưng anh vẫn không thay đổi mà vẫn cứ chơi bời, bỏ mặc gia đình, vợ chồng chị chính thức sống ly thân từ năm 2014 đến nay, không còn quan tâm gì đến nhau. Nay chị xác định không còn tình cảm gì với anh T, nên chị làm đơn đề nghị Toà án nhân dân huyện Đ giải quyết cho chị được ly hôn anh T để ổn định cuộc sống.
- + Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Mạnh N, sinh này 07/10/1993 và Nguyễn Mạnh P, sinh ngày 13/7/2003. Các con đã trưởng thành nên chị không yêu cầu giải quyết phần con chung.
- + Tài sản chung, nợ chung: Chị L không yêu cầu Toà án giải quyết
- + Về án phí: Chị L nhận nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm vào Ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.
Sau khi Tòa án nhân dân huyện Đ thụ lý vụ án ly hôn, Toà án cũng đã gửi Thông báo thụ lý vụ án và Giấy triệu tập cho các đương sự qua đường Bưu điện. Sau đó Toà án có liên lạc bằng điện thoại cho anh T và báo cho anh T biết về nội dung khởi kiện yêu cầu ly hôn của chị L. Tuy nhiên anh T chỉ hẹn sẽ đến Tòa án để giải quyết nhưng anh không đến và cũng không có bất cứ văn bản nào phản hồi cho Toà án biết về quan điểm khi chị L khởi kiện ly hôn anh. Toà án cùng chính quyền địa phương, trưởng xóm đến gia đình nhà anh T nhiều lần để tống đạt thông báo thụ lý vụ án và giấy triệu tập cho anh T đến Toà án viết bản tự khai và tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải với chị L nhưng anh T không có mặt tại nhà. Toà án có liên lạc lại qua điện thoại cho anh T nhưng anh T nói bận không có thời gian đến Tòa vì anh còn đang đi làm, nên Toà án giải quyết vắng mặt anh theo quy định pháp luật
Toà án lập biên bản xác minh tại chính quyền địa phương và Công an xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên về nơi cư trú của anh Nguyễn Xuân T được biết: Anh Nguyễn Nguyễn Xuân T, sinh năm 1970 hiện vẫn đang cư trú tại xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, ở cùng với con trai là cháu Nguyễn Mạnh P, sinh năm 2003 hiện nay anh T và con trai đi làm ăn, thi thoảng cuối tuần mới về nhà, ở vài hôm rồi lại đi. Do không thực hiện được tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng cho anh T nên Tòa án lập biên bản niêm yết các văn bản tố tụng tại địa phương và trụ sở TAND huyện Đ như: Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Giấy triệu tập phiên tòa lần 1, lần 2 đối với anh Nguyễn Xuân T, trú tại xóm B, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên phát biểu ý kiến về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án, người tham gia tố tụng là nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự;
Bị đơn – anh Nguyễn Xuân T đã vi phạm quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Xuân T kết hôn năm 1993, do hai bên tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện S, thành phố Hà Nội là hôn nhân hợp pháp. Mâu thuẫn vợ chồng do bất đồng quan điểm sống, cả hai bên đã sống ly thân từ năm 2014 đến nay, chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 giải quyết cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Nguyễn Xuân T; Về con chung: Các con đã trưởng thành nên không giải quyết; Về tài sản chung, nợ chung: chị L không yêu cầu. Do anh T không hợp tác giải quyết vụ án và không có lời khai về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng, đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết trong vụ án ly hôn này; Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- * Về tố tụng: Đây là vụ án Hôn nhân và gia đình về việc: “ Ly hôn ” quy định tại khoản 1 Điều 28; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Anh T không hợp tác giải quyết vụ án nên Tòa án đã niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng như thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập phiên tòa lần 1, lần 2 cho anh Nguyễn Xuân T theo đúng quy định tại Điều 177; 179 BLTTDS năm 2015 nhưng anh T vẫn vắng mặt không có lý do là không có ý thức chấp hành pháp luật.
- Chị Nguyễn Thị L có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt chị. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ Điều 177, 179, khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Nguyễn Xuân T và chị Nguyễn Thị L
- * Về nội dung:
- [1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Xuân T kết hôn năm 1993, do hai bên tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện S, thành phố Hà Nội là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận là vợ chồng. Lý do chị L xin ly hôn anh T, theo chị L khai là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh T không quan tâm đến gia đình, vợ chồng thường xuyên xảy ra xô xát cãi vã, chửi nhau, chính thức đã sống ly thân từ năm 2014 đến nay, nay chị L xác định không còn tinh cảm vợ chồng với anh T, nên chị xin ly hôn anh T để ổn định cuộc sống.
- Khi Tòa án thụ lý hồ sơ và triệu tập hai bên đến Tòa án viết bản tự khai nhưng anh T không hợp tác giải quyết vụ án. Tòa án đã thực hiện việc niêm yết các văn bản tố tụng để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
- HĐXX xét thấy vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2014 mà cả hai bên đều không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng như vậy hôn nhân giữa chị L và anh T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu duy trì quan hệ hôn nhân sẽ không mang lại hạnh phúc cho cả hai bên. Do đó chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của chị L, cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Nguyễn Xuân T là phù hợp với thực tế và Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.
- [2] Về con chung: Các con đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và sức khoẻ bình thường nên Toà án không giải quyết.
- [3] Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không giải quyết do chị L không có yêu cầu.
- [4] Về án phí: Chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm vào Ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.
- [5] Quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Xuân T có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
- Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
- - Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 177, 179, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, 273, 482, 483 Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Điều 19, 51, 56, 57 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;
- - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- - Luật thi hành án dân sự
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị L cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Nguyễn Xuân T. Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Xuân T chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Toà án không giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm vào Ngân sách Nhà nước, được chuyển từ tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0007413 ngày 14/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, Chị L và anh T đầu vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Mai Thị Hồng Thái |
Bản án số 16/2025/HNGĐ - ST ngày 27/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 16/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị L cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Nguyễn Xuân T. Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Xuân T chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
