TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN KHÊ - TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 16 /2025/HNGĐ-ST Ngày: 26/5/2025 “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN KHÊ - TỈNH GIA LAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Trung Toàn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Kia và ông Trần Văn Thảo.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Khê tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Ngọc, Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 217/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 46/2025/QĐHPT-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Thu T, sinh năm 1993; địa chỉ: Tổ B, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Dương Phi T1, sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ B, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị Lê Thị Thu T trình bày: Tôi và anh Dương Phi T1 tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai tại Giấy chứng nhận kết hôn số 122 ngày 16/11/2011. Trong quá trình sống chung không hợp nhau nên phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân, do anh T1 ham chơi không chăm sóc gia đình vợ, con nên vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau. Những lúc mâu thuẫn thì anh T1 đánh đập tôi, tình trạng này lặp đi lặp lại nhiều lần nên vợ chồng không còn hạnh phúc, hiện nay giữa tôi và anh T1 đã ly thân, không còn tình cảm vợ chồng. Vì vậy, tôi không thể nào quay về đoàn tụ với anh A được mà giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh T1. Về con chung tôi và anh T1 có 02 con chung là cháu Dương Lê Gia L, sinh ngày 25/11/2012 và Dương Khải U, sinh ngày 29/4/2020. Từ trước đến nay tôi là người nuôi các con nên yêu cầu tiếp tục được nuôi các con. Về cấp dưỡng nuôi con, tôi không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản, tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Dương Phi T1, mặc dù đã được Tòa án Thông báo thụ lý, Thông báo phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, triệu tập đến tham gia phiên tòa nhưng đều cố tình vắng mặt nên không trình bày quan điểm của anh T1 về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa có ý kiến: Về thủ tục tố tụng Tòa án nhân dân thị xã An Khê đã thụ lý và giải quyết vụ án đúng thẩm quyền; Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Khê đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; về hôn nhân chị T được ly hôn với anh T1; về con chung, giao cho chị T nuôi 02 con chung đến khi trưởng thành và tự lực được. Về cấp dưỡng nuôi con, tại phiên tòa chị T không yêu cầu nên không xem xét. Về án phí, buộc chị T phải chịu số tiền 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Nguyên đơn chị Lê Thị Thu T yêu cầu ly hôn với anh Dương Phi T1, hiện cư trú tại: Tổ B, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì đây là vụ án về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai.
- [2] Bị đơn anh Dương Phi T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
- [3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Thu T và anh Dương Phi T1 tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình sống chung giữa chị T và anh T1 có phát sinh nhiều mâu thuẫn nên đã ly thân nhau. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập anh T1 đến để hòa giải, xét xử nhưng anh T1 không đến, vì thế Toà án không thể hoà giải được. Xét thấy, hiện nay chị T và anh T1 đã không còn chung sống với nhau, tại phiên toà chị T trình bày không còn tình cảm vợ chồng với anh T1 và giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh T1. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy rằng tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh T1 là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu câu xin ly hôn của chị T được ly hôn với anh T1, là có căn cứ.
- [4] Về con chung: Chị T và anh T1 có có 02 con chung là cháu Dương Lê Gia L, sinh ngày 25/11/2012 và Dương Khải U, sinh ngày 29/4/2020, chị T đang nuôi con và yêu cầu được tiếp tục nuôi các con. Qua tham khảo ý kiến cháu L thì thấy con có nguyện vọng được ở với mẹ. Do vậy giao cho chị T tiếp tục nuôi cả 02 con là cháu L và cháu U cho đến khi trưởng thành và tự lực được là phù hợp theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
- [5] Về cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên tòa chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung. Vì thế, Hội đồng xét xử không xem xét.
- [6] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [7] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Bị đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 235, Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Thu T.
- Về hôn nhân: Chị Lê Thị Thu T được ly hôn với anh Dương Phi T1.
- Về nuôi con chung: Giao cho chị Lê Thị Thu T trực tiếp nuôi 02 con là cháu Dương Lê Gia L, sinh ngày 25/11/2012 và Dương Khải U, sinh ngày 29/4/2020 cho đến khi các con thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lê Thị Thu T không yêu cầu anh Dương Phi T1, cấp dưỡng nuôi con chung.
Vì lợi ích của con, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở. Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng quyền thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về án phí: Chị Lê Thị Thu T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0013335 ngày 10 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã An Khê, chị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. Anh Dương Phi T1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
- Thời hạn kháng cáo: Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 26/5/2025) các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm. Thời hạn trên đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa được tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Mai Trung Toàn |
Bản án số 16/2025/HNGĐ-ST ngày 26/05/2025 của Tòa án nhân dân thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 16/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HNGĐ THẢO-TRƯỜNG
