Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ CHƠN THÀNH

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 26 – 3 – 2025

Về việc: “Ly hôn và

tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH-TỈNH BÌNH PHƯỚC

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Xuân Đính

2. Bà Lương Thị Thu An

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Duy – Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân

thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước

- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng -

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước

Trong ngày 26 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 184/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2024, về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 24/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2025/QĐST-TA ngày 14/3/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Cẩm H, sinh năm 1992; Địa chỉ nơi cư trú: Tổ E, khu phố C, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước (Xin vắng mặt)

Bị đơn: Anh Phạm Tuấn Q, sinh năm 1990; Địa chỉ nơi cư trú: Tổ E, khu phố C, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện nộp ngày 21 tháng 11 năm 2024, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm H trình bày:

Chị Nguyễn Thị Cẩm H và Anh Phạm Tuấn Q chung sống với nhau và làm thủ tục đăng ký kết hôn năm 2013 tại UBND xã M, huyện C (nay là phường M, thị xã C), tỉnh Bình Phước. Việc kết hôn và chung sống là hoàn toàn tự nguyện không ai ép buộc. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau nên vợ chồng thường xuyên bất đồng không còn yêu thương nhau nên chị H đã chuyển về nhà mẹ ruột sống tại thị xã B, tỉnh Bình Phước, còn anh Q sống tại phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước và 2 vợ chồng đã sống ly thân cho đến nay. Nhận thấy cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc nên chị H yêu cầu được giải quyết ly hôn với anh Q để ổn định cuộc sống,

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Phạm Quỳnh A sinh ngày 22/7/2013. Khi ly hôn chị H yêu cầu giao con chung cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có tài sản chung nên chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có nợ chung nên chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Phạm Tuấn Q trong quá trình giải quyết vụ án không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị H mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng trong vụ án.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn, bị đơn đều vắng mặt và không cung cấp thêm chứng cứ nào.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm như sau :

  • + Về thủ tục tố tụng: Xác định trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tuân theo đúng pháp luật tố tụng dân sự về việc nhận đơn khởi kiện, thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, cấp tống đạt và gửi các văn bản tố tụng cũng như thời hạn giải quyết vụ án. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử đã đảm bảo đúng các nguyên tắc, thủ tục tố tụng.
  • + Về nội dung: Đề nghị HĐXX: Căn cứ khoản 1, điều 28, điểm a, khoản 1, điều 35, điểm a khoản 1 điều 39, điều 227, điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 27, Nghị quyết về án phí lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: cho chị H được ly hôn với anh Q, giao con chung Phạm Quỳnh A sinh ngày 22/7/2013 cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng; Về án phí : chị H phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] .Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm H khởi kiện đối với bị đơn anh Phạm Tuấn Q có nơi cư trú tại: phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước. Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có yêu cầu giải quyết vắng mặt; Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại điều 227, điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm H, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Cẩm H và anh Phạm Tuấn Q tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2012, có làm thủ tục đăng ký kết hôn Ủy ban nhân dân xã M, huyện C (nay là phường M, thị xã C), tỉnh Bình Phước. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc hay lừa dối. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân gia đình thì đây là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình giải quyết vụ án chị H cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng xuất phát từ việc vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống từ đó vợ chồng bất hòa, mâu thuẫn, đời sống chung không có hạnh phúc. Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng anh Q không có ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị H, không tham gia các phiên hòa giải Tòa án tổ chức thể hiện thái độ bỏ mặc, không quan tâm. Tại biên bản xác minh được ban Q1, phường M cho biết chị H trước đây sống chung với anh Q tại nhà anh Q tại khu phố C, phường M nhưng thời gian gần đây chị H không còn sinh sống tại đây, đi đâu sinh sống nhưng không báo địa phương. Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng của chị H và anh Q đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt, đời sống vợ chồng không thể kéo dài. Do đó cần chấp nhận yêu cầu của chị H, cho chị H được ly hôn với anh Q.

Về con chung: Chị H và anh Q có một con chung tên Phạm Quỳnh A sinh ngày 22/7/2013, từ khi vợ chồng sống ly thân thì cháu Quỳnh A do anh Q trực tiếp nuôi dưỡng. Quá trình giải quyết vụ án anh Q không có ý kiến với yêu cầu giao con chung cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng của chị H, cũng như anh Q không hợp tác để Tòa án ghi nhận ý kiến của con chung trên 7 tuổi để tham khảo khi giải quyết việc giao nuôi con. Tuy nhiên, để bảo đảm sự phát triển về mọi mặt của con chung cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho việc học hành của con chung được ổn định về tâm lý và nơi học hành, cần giao con chung Phạm Quỳnh A sinh ngày 22/7/2013 cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Do chị Nguyễn Thị Cẩm H là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004606 ngày 25/11/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.

[3] Về quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 9, 51, 56, 81, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 264, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án ngày 21/12/2016.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm H.

    Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Cẩm H được ly hôn với Anh Phạm Tuấn Q.

    Về con chung: Giao con chung Phạm Quỳnh A sinh ngày 22/7/2013 cho anh Phạm Tuấn Q trực tiếp nuôi dưỡng. Không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

  2. Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Cẩm H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004606 ngày 25/11/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
  3. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh BP;
  • - VKSND thị xã Chơn Thành;
  • - Chi cục THADS thị xã Chơn Thành;
  • - UBND phường Minh Thành;
  • - Đương sự;
  • - Lưu HSVA.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Chu Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2025/HNGĐ-ST ngày 26/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH TỈNH BÌNH PHƯỚC về ly hôn và tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 16/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger