Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 16/2025/HNGĐ-ST

Ngày 26 - 3- 2025

Về việc “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Hậu

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thanh Duyên
  2. Ông Huỳnh Văn Inh

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Võ Thanh Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trường – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 199/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 19 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Trần Thị N, sinh năm 1969 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • Địa chỉ: ấp K, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
  • - Bị đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1961 (vắng mặt không có lý do).
  • Địa chỉ: ấp K, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện ngày 04 tháng 12 năm 2024, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị N trình bày:

Bà với ông Trần Văn T kết hôn vào ngày 15/3/2018 theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 21, tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống hạnh phúc được một thời gian khoảng 05 năm sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, cách nhìn nhận cuộc sống không phù hợp, ông T đã sinh sống với người phụ nữ khác bên ngoài.

Từ đó vợ chồng đã ly thân từ năm 2024 cho đến nay là hơn 01 năm. Nay tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung đã mất, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà yêu cầu ly hôn với ông Trần Văn T.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng không có con chung nên không yêu cầu giải quyết.

Tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay: Bà N có đơn xin giải quyết vắng mặt, ông Trần Văn T vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà N, ông T theo khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Vị Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự thực hiện theo các quy định tại các Điều 28, 35, 39, 68, 97, 177, 196, 203, 205, 208, 209, 210, 211, 220 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Nội dung vụ án: Vị kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị N . Cho bà Trần Thị N được ly hôn với ông Trần Văn T. Con chung, tài sản chung, nợ chung: Không yêu giải quyết. Nguyên đơn có nghĩa vụ chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật của vụ án: “Ly hôn”, bị đơn ông Trần Văn T có nơi cư trú tại ấp K, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh, căn cứ vào khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về hôn nhân: Xét thấy, bà Trần Thị N và ông Trần Văn T tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân với nhau vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận.

[4] Quá trình chung sống với nhau giữa bà Trần Thị N và ông Trần Văn T phát sinh mâu thuẫn. Theo lời trình bày của bà Trần Thị N, thời gian sau khi kết hôn, 02 vợ chồng sống hạnh phúc khoảng 05 năm. Đến đầu năm 2024, do bất đồng quan điểm, các nhìn nhận cuộc sống không phù hợp và ông N có người phụ nữ khác bên ngoài, nên vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2024 cho đến nay. Phía ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án và cũng không trình bày ý kiến của mình về hôn nhân của ông và bà N. Theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình thì vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy mục đích hôn nhân của bà N và ông T là không đạt được, tình cảm vợ chồng là không còn yêu thương, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên cho bà N được ly hôn với ông T là có cơ sở.

[5] Về con chung: Bà N và ông T không có con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trần Thị N trình bày bà và ông T không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[7] Án phí: Bà Trần Thị N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Xét đề nghị của V đại diện viện kiểm sát là có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ các Điều 51; 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của bà Trần Thị N. Cho bà Trần Thị N được ly hôn với ông Trần Văn T.

Con chung: Bà N và ông T không có con chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trần Thị N trình bày bà và ông T không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Bà Trần Thị N toàn bộ án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà Trần Thị N đã nộp theo biên lai số 0009739 ngày 10/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Bà Trần Thị N không phải nộp thêm. Ông Trần Văn T không phải chịu án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - THADS huyện Châu Thành;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Hòa Thuận;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Phước Hậu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2025/HNGĐ-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH về ly hôn

  • Số bản án: 16/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của bà Trần Thị Nghiêm. Cho bà Trần Thị Nghiêm được ly hôn với ông Trần Văn Tâm. Con chung: Bà Nghiêm và ông Tâm không có con chung nên không đặt ra xem xét giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trần Thị Nghiêm trình bày bà và ông Tâm không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger