|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 16/2025/HNGĐ-ST Ngày 25/3/2025 “V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Việt Trung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Biên;
Ông Đặng Quang Hải.
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Minh Nguyệt - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Nhi - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 05/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 01 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04/02/2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Anh Lê Xuân N, sinh năm: 1988; nơi ĐKHKTT: Thôn T, thị trấn C, huyện G, tỉnh Quảng Trị; nơi làm việc: 22356 Iu U-dong, K; vắng mặt.
- Đại diện theo uỷ quyền nhận văn bản tố tụng: Công ty L1, địa chỉ: 1 T, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị - Người đại diện theo pháp luật của công ty: Luật sư Lê Văn H, chức vụ: Giám đốc; vắng mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Trần Thị Ly L, địa chỉ: 1 T, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
- - Bị đơn: Chị Nguyễn Song H1, sinh năm: 1989; địa chỉ: Thôn T, thị trấn C, huyện G, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê T và và Lê Thị V địa chỉ: thôn T, thị trấn C, huyện G, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 08/01/2025, nguyên đơn trình bày:
Anh Lê Xuân N và chị Nguyễn Song H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện G, tỉnh Quảng Trị ngày 15/11/2016. Thời gian đầu mới kết hôn, hai vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2023, vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, chị H1 thường xuyên không ở nhà, bỏ bê con cái từ khi cháu còn nhỏ, hai vợ chồng không có tiếng nói chung nên đã ly thân từ đầu năm 2023 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống gia đình không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh N khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị giải quyết những vấn đề sau:
- - Về tình cảm: Đề nghị Tòa án giải quyết cho anh Lê Xuân N được ly hôn chị Nguyễn Song H1.
- - Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Lê Gia H2, sinh ngày 03/01/2021. Nếu ly hôn, anh Lê Xuân N có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và không yêu cầu chị Nguyễn Song H1 cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi cứ trú của chị H1; tống đạt các văn bản tố tụng cho chị H1 thông qua mẹ đẻ của chị H1 là bà Nguyễn Thị H3 và chị gái của chị H1 là chị Nguyễn Thị H4; địa chỉ: Tổ dân phố B, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình.
Tại biên bản xác minh ngày 27/01/2025, bà Nguyễn Thị H3 và chị Nguyễn Thị H4 trình bày:
Chị Nguyễn Song H1 kết hôn với anh Lê Xuân N vào năm 2016, sau khi kết hôn thì chị H1 vào sinh sống và nhập khẩu vào gia đình chồng tại thôn T, thị trấn C, huyện G, tỉnh Quảng Trị. Tuy nhiên, hiện nay chị Nguyễn Song H1 đang sinh sống và làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh nhưng địa chỉ cụ thể của chị H1 ở đâu thì bà H3 và chị H4 không biết. Chị H1 thường xuyên liên lạc về bà H3 và chị H4 thông qua điện thoại và các ứng dụng mạng xã hội. Bà H3 và chị H4 cam đoan sẽ nhận các văn bản tố tụng của Toà án và truyền đạt lại cho chị H1 biết.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị phát biểu ý kiến:
- - Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 71, 73 BLTTDS, có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên vi phạm quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 BLTTDS.
-
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83, 104 của Luật HNGĐ; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, xử:
- + Về tình cảm: Cho anh Lê Xuân N được ly hôn chị Nguyễn Song H1.
- + Về con chung: Giao cháu Lê Gia H2 cho anh N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm giao cháu H2 cho ông Lê T và bà Lê Thị V (ông bà nội cháu H2) chăm sóc;
- + Về cấp dưỡng nuôi con: Anh N không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
- + Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- + Về án phí: Anh Lê Xuân N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Về thẩm quyền của Tòa án:
Anh Lê Xuân N khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn chị Nguyễn Song H1. Hiện nay, anh Lê Xuân N đang sinh sống và làm việc tại địa chỉ B Iu U-dong, Korean (Hàn Quốc). Như vậy, vụ án này có đương sự ở nước ngoài, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2]. Về thủ tục tố tụng:
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi cư trú của chị H1; tống đạt các văn bản tố tụng đến cho chị H1 thông qua mẹ đẻ của chị H1 là bà Nguyễn Thị H3 và chị gái của chị H1 là chị Nguyễn Thị H4; địa chỉ: tổ dân phố B, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Tuy nhiên, chị H1 vẫn không có mặt, không có văn bản trình bày ý kiến của mình. Do đó, Tòa án lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được và tiến hành các thủ tục để đưa vụ án ra xét xử.
[1.3]. Về sự vắng mặt của đương sự tại phiên toà:
Nguyên đơn anh Lê Xuân N vắng mặt tại phiên toà và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn chị Nguyễn Song H1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê T và bà Lê Thị V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần đến tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân:
Anh Lê Xuân N và chị Nguyễn Song H1 kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã G, huyện G ngày 15/11/2016. Đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Thời gian đầu mới kết hôn, anh N và chị H1 chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, sau đó hai vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, cãi vã, không còn tiếng nói chung.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã ban hành Kế hoạch giải quyết vụ án và thông báo cho chị H1 biết để sắp xếp công việc, tham gia tố tụng nhưng chị H1 không có mặt, không có văn bản trình bày ý kiến của mình, chứng tỏ chị H1 không có ý thức mong muốn để vợ chồng đoàn tụ. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh N và chị H1 đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho anh Lê Xuân N được ly hôn chị Nguyễn Song H1 theo quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2]. Về con chung:
Anh Lê Xuân N và chị Nguyễn Song H1 có 01 con chung là cháu Lê Gia H2, sinh ngày 03/01/2021. Hiện nay, cháu H2 đang được ông Lê T và bà Lê Thị V (là bố mẹ đẻ anh N) chăm sóc, nuôi dưỡng. Tại biên bản xác minh ngày 07/02/2025, ông Lê T và bà Lê Thị V đồng ý chăm sóc cháu Lê Gia H2 trong thời gian anh N sinh sống, làm việc tại Hàn Quốc.
HĐXX thấy rằng: Nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con cái là của bố mẹ. Tuy nhiên, hiện nay anh Lê Xuân N đang sinh sống ở Hàn Quốc nhưng thường xuyên liên lạc, quan tâm, chăm sóc cháu H2, chị Nguyễn Song H1 không rõ địa chỉ cụ thể, không liên lạc hỏi han, chăm sóc cháu H2. Cháu H2 đang do ông bà nội nuôi dưỡng, chăm sóc rất tốt. Như vậy, cần giao cháu H2 cho anh N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian anh N chưa trở về Việt Nam thì tạm giao cháu H2 cho ông Lê T và bà Lê Thị V chăm sóc.
Sau này, nếu chị H1 có nguyện vọng nuôi dưỡng, chăm sóc con chung thì có quyền gửi đơn đến Toà án nhân dân có thẩm quyền để xem xét giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn.
[2.3]. Về cấp dưỡng nuôi con:
Anh N không có yêu cầu nên không xem xét.
[2.4]. Về tài sản chung, nợ chung:
Anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[3]. Về án phí:
Anh Lê Xuân N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83, 104 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Xuân N.
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Xuân N được ly hôn chị Nguyễn Song H1.
-
Về con chung:
Giao cháu Lê Gia H2, sinh ngày 03/01/2021 cho anh Lê Xuân N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian anh N chưa trở về Việt Nam thì tạm giao cháu H2 cho ông Lê T và bà Lê Thị V chăm sóc.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Anh Lê Xuân N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0000221 ngày 21/01/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị. Anh N đã nộp đủ.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Việt Trung |
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM |
||
|
Các Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
|
|
Nguyễn Văn Biên |
Đặng Quang Hải |
Trần Việt Trung |
Bản án số 16/2025/HNGĐ-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 16/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Lê Xuân N khởi kiên ly hôn chị Nguyễn Song H
