|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 16/2025/HNGĐ-ST Ngày: 21-3-2025 “V/v tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Quỳnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Hùng.
Bà Nguyễn Thị Liêm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Đào - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng xét xử công khai sơ thẩm vụ án thụ lý số 400/2024/TLST-HNGĐDS ngày 18 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm: 1976. Vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Trương Thanh V, sinh năm: 1966. Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: ấp G, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và qua các lần làm việc, nguyên đơn bà Lê Thị T trình bày: Bà và chồng bà là ông Trương Thanh V chung sống vào năm 1995, do mai mối và có tìm hiểu, vợ chồng có tổ chức cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P (nay là xã P), thị xã T vào ngày 08-4-2016.
Vợ chồng chung sống có 01 con chung tên Trương Thanh Vân A, sinh ngày 27-01-1997, đã thành niên và có khả năng lao động được.
Ông bà chung sống có tài sản chung là nhà, đất nhà và đất ruộng nhưng đã tặng cho hết các con (gồm con chung của vợ chồng và con riêng của chồng bà) nên vợ chồng không có tài sản chung.
Về nợ chung: Không có.
Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông bà làm ăn thất bại nên bị đổ nợ, từ năm 2016 đến năm 2024 bà phải bỏ đi nước ngoài (Đài Loan) làm thuê để trả nợ. Khi bà vừa đi thì chồng có tình cảm với người phụ nữ khác. Từ đó, vợ chồng mâu thuẫn kéo dài cho đến nay. Tháng 4-2024, bà bị bệnh nặng và phải điều trị trong thời gian dài, chồng bà không quan tâm lo lắng cho bà kể cả về mặt vật chất và tinh thần. Vợ chồng ly thân từ năm 2016 đến nay. Hiện mỗi người đều có cuộc sống riêng, không quan tâm đến nhau và không ai có hiện chí hàn gắn gia đình. Vì vậy, bà yêu cầu được ly hôn với chồng là ông Trương Thanh V.
Về con chung, đã thành niên và có khả năng lao động được bà không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn ông Trương Thanh V trình bày: Ông thống nhất với lời trình bày của bà T về vấn đề hôn nhân (vợ chồng chung sống có đăng ký kết hôn); về con chung (có 01 con đã thành niên). Về tài sản chung và nợ chung: tất cả đều không có.
Về mâu thuẫn, theo ông nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp nhau, thường xuyên gây gỗ, mâu thuẫn lâu ngày dẫn đến việc vợ ông làm đơn yêu cầu ly hôn với ông. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên ông đồng ý ly hôn theo yêu cầu của vợ ông.
Con chung đã thành niên và có khả năng lao động được nên ông không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông không yêu cầu giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng phát biểu:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng tuân thủ đúng theo pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông V. Ghi nhận sự trình bày thống nhất của ông bà về con chung, tài sản chung và nợ chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân: Bà Lê Thị T và ông Trương Thanh V chung sống với nhau vào năm 1995, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P (nay là xã P), thị xã T vào ngày 08-4-2016 nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nay bà T có yêu cầu ly hôn, Tòa án thụ lý và giải quyết theo thủ tục chung.
Xét mâu thuẫn giữa ông bà, thì thấy: Bà T cho rằng do vợ chồng bị đổ nợ nên bà phải đi làm ăn xa, ông V ở nhà có tình cảm với người phụ nữ khác. Khi bà bị bệnh, ông V không quan tâm, lo lắng cho bà. Ông V cho rằng vợ chồng tình tình không hợp nên thường xuyên gây gỗ, mâu thuẫn kéo dài trong nhiều năm dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống và đình không có hạnh phúc. Từ năm 2016 ông bà đã ly thân cho đến nay. Khi bà T yêu cầu ly hôn, ông V chấp nhận. Từ đó cho thấy, mâu thuẫn giữa ông bà đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông V là phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Con chung của ông bà là chị Trương Thanh Vân A, sinh ngày 27-01-1997, đã thành niên và có khả năng lao động được, ông bà không có yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
[3] Về tài sản chung và nợ chung: Ông bà không có yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
[3] Về án phí: Bà T chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về phí, lệ phí Tòa án:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị T đối với ông Trương Thanh V. Bà T được ly hôn với ông V.
- Về con chung: Con chung của ông bà là chị Trương Thanh Vân A, sinh ngày 27-01-1997, đã thành niên và có khả năng lao động được, ông bà không có yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Ông bà không có yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Bà Thúy H chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0000439 ngày 18-10-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng. Bà T đã nộp đủ án phí.
Các đương sự được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Vân Quỳnh |
Bản án số 16/2025/HNGĐ-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 16/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Thúy - Trương Thanh Vân
