|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 16/2025/HNGĐ-ST Ngày: 25 - 3 - 2025 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Huỳnh Văn Tâm;
- Ông Lê Thanh Hảo.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Thị Kim Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 470/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Lâm Minh T, sinh năm 1978; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang. Chỗ ở hiện nay: số 120/3 hẻm L, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Anh T1, sinh năm 1995; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang. Chỗ ở hiện nay: tổ G, ấp P, xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp hợp pháp cho bị đơn: Ông Trần Chí C - Luật sư văn phòng L thuộc đoàn luật sư tỉnh A.
Ông T, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn có mặt; bị đơn vắng mặt và có yêu cầu xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên
2
đơn ông Lâm Minh T trình bày: Ông T và bà T1 tự tìm hiểu, quen biết nhau và tổ chức lễ cưới vào năm 2015, đến năm 2018 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 130 ngày 13/9/2018. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, đến năm 2024 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không còn tình cảm nên ông T yêu cầu ly hôn với bà T1.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, ông T và bà T1 có 02 con chung tên Lâm Cát Thiên K, sinh ngày 25/01/2019 và Lâm Mai Thiên K1, sinh ngày 29/7/2022, hiện các con đang sống cùng bà T1. Ông Thương yêu C1 được nuôi con chung Lâm Cát Thiên K, đồng ý giao con chung Lâm Mai Thiên K1 cho bà T1 nuôi dạy. Các bên không cấp dưỡng qua lại nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết.
Theo bản tự khai của bị đơn Nguyễn Thị Anh T1 trình bày: Bà T1 và ông T tự tìm hiểu, yêu thương nhau và đi đến hôn nhân vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh An Giang. Cuộc sống chung vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cải vã, tính tình không phù hợp. Tình cảm vợ chồng không còn, không còn sống chung với nhau nên đồng ý ly hôn theo yêu cầu của ông T.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà T1 và ông T có 02 con chung tên Lâm Cát Thiên K, sinh ngày 25/01/2019 và Lâm Mai Thiên K1, sinh ngày 29/7/2022, hiện các con đang sống cùng bà T1. Bà T1 yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy 02 con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung. Không đồng ý giao con chung Lâm Cát Thiên K cho ông T nuôi dạy từ khi còn nhỏ bà T1 đã trực tiếp nuôi dưỡng các con.
Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết.
Tòa án không tiến hành hòa giải được do bà T1 xin vắng mặt hòa giải.
Tại phiên tòa,
- Nguyên đơn ông Lâm Minh T vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn bà T1, không có ý kiến bổ sung. Yêu cầu được nuôi dạy con chung Lâm Cát Thiên K, đồng ý giao con chung Lâm Mai Thiên K1 cho bà T1 nuôi dạy. Các bên không cấp dưỡng qua lại nuôi con chung.
- Chủ tọa công bố lại lời khai, ý kiến của bà Nguyễn Thị Anh T1.
- Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp của bị đơn: Về tình cảm: ông T và bà T1 thống nhất thuận tình ly hôn; về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; về con chung: bà T1 yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy 02 con chung, các con chung hiện đang sống cùng với bà T1 và mẹ bà T1, cuộc sống các cháu đã ổn định, bà T1 đi làm đưa tiền cho mẹ ruột để nuôi các con chung ăn học. Bà T1 có đủ thu nhập ổn định, được sự hỗ trợ của gia đình trong việc chăm sóc các con. Do đó, đề nghị giao các con chung cho bà T1
3
nuôi dạy đến khi trưởng thành.
- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm:
+ Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 48 BLTTDS. Xác định thẩm quyền thụ lý, quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách pháp lý của các đương sự, thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án và lập hồ sơ đúng theo quy định tại các Điều 195, 196, 198 và Điều 203 BLTTDS năm 2015; Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
+ Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên đề nghị căn cứ Điều 227, 228 BLTTDS năm 2015 xét xử vắng mặt bị đơn.
+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về hôn nhân: Ông T và bà T1 tự tìm hiểu, tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện nên được xem là hôn nhân hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, quan tâm chăm sóc, giúp đỡ, cùng nhau chia sẻ các công việc trong gia đình và sống chung với nhau. Tuy nhiên, trong thời kỳ hôn nhân giữa ông T với bà T1 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống và sống ly thân từ tháng 5/2024 đến nay. Ông Thương yêu C1 ly hôn, bà T1 cũng đồng ý ly hôn với ông T. Mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, có kéo dài cuộc hôn nhân thì mục đích hôn nhân không đạt nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông T.
Về con chung: Ông T và bà T1 có 02 con chung tên Lâm Cát Thiên K, sinh ngày 25/01/2019 và Lâm Mai Thiên K1 sinh ngày 29/7/2022. Ông Thương yêu C1 được nuôi dạy con chung tên Lâm Cát Thiên K, sinh ngày 25/01/2019. Bà T1 yêu cầu được nuôi dạy 02 con chung.
Hiện tại ông T đang sinh sống nhờ ở căn nhà của cha mẹ ông để lại tại địa chỉ số A hẻm L, khóm C, phường C, thành phố C, cùng dì, anh trai, em trai và em dâu của ông; hằng ngày ông lấy vé số của đại lý để bán và thu nhập 6.000.000 đồng/tháng. Tại phiên tòa, ông T thừa nhận từ khi ly thân đến nay ông T không chu cấp chi phí sinh hoạt cũng như không đến thăm nom 02 con chung. Đồng thời, ông T có khoản nợ Ngân hàng V (V1) và hiện Ngân hàng đang khởi kiện ông trong một vụ án khác.
Xét, T2 khi ly thân đến nay 02 con chung sinh sống ổn định cùng bà T1 tại nhà cha mẹ bà T1 (Tổ A, ấp P, xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp) và có cha mẹ bà T1 cùng nuôi dạy 02 cháu. Mặc khác, bà T1 kinh doanh mua bán tại nhà ổn định và 02 con chung còn nhỏ nên cần ổn định môi trường sống cũng như tâm lý cho trẻ. Để tạo điều kiện phát triển cho con chung về mọi mặt nên giao các con
4
chung Lâm Cát Thiên K, sinh ngày 25/01/2019 và Lâm Mai Thiên K1 sinh ngày 29/7/2022 cho bà T1 nuôi dạy là phù hợp theo quy định của phát luật; Ghi nhận sự tự nguyện của bà T1 không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập.
Về nợ chung: các đương sự thống nhất không yêu cầu giải quyết, nên không đề cập.
Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ông Lâm Minh T được ly hôn với Bà Nguyễn Thị Minh T3; Không chấp nhận yêu cầu của ông T yêu cầu nuôi con chung tên Lâm Cát Thiên K, sinh ngày 25/01/2019. Bà T3 được nuôi dạy 02 con chung tên Lâm Cát Thiên K, sinh ngày 25/01/2019 và Lâm Mai Thiên K1 sinh ngày 29/7/2022; Ông T không cấp dưỡng nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền: Ông Lâm Minh T khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị Anh T1. Bà T1 có đăng ký hộ khẩu thường trú trên địa bàn thành phố C và có ý kiến đồng ý để Tòa án thành phố C giải quyết việc ông T yêu cầu ly hôn bà T1. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn Nguyễn Thị Anh T1 có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
* Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: ông Lâm Minh T và Nguyễn Thị Anh T1 tự tìm hiểu, quen biết và đi đến hôn nhân vào năm 2015, đến năm 2018 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh An Giang theo Giấy kết hôn số 130 ngày 13/9/2018 là hôn nhân hợp pháp nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.
Theo ông T trình bày giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cải vã, tính tình không hợp nhau và hiện không còn chung sống với nhau từ tháng 5/2024 cho đến nay. Tình cảm không còn nên yêu cầu ly hôn bà T1.
5
Bà T1 cũng xác định vợ chồng mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cải vã, tính tình không hợp nhau và hiện không còn chung sống với nhau từ tháng 5/2024 cho đến nay, tình cảm không còn nên đồng ý ly hôn theo yêu cầu của ông T.
Xét, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau. Ông T và bà T1 đều xác định mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hợp nhau, thường xuyên cải vã và không còn sống chung từ tháng 5/2024 cho đến nay. Trong cuộc sống vợ chồng, có mâu thuẫn xảy ra thì vợ chồng cùng nhau hòa giải hàn gắn. Tuy nhiên, vợ chồng T, T1 khi xảy ra mâu thuẫn lại không hòa giải, hàn gắn mà tiếp tục sống xa nhau, cùng xác định không còn tình cảm đối với nhau và đồng ý ly hôn. Nhận thấy, mâu thuẫn tình cảm giữa ông T và bà T1 là trầm trọng, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc, tôn trọng lẫn nhau, nếu có kéo dài quan hệ hôn nhân thì mục đích hôn nhân cũng không đạt được, hạnh phúc gia đình không còn nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T về việc yêu cầu ly hôn với bà T1 theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4] Về con chung: Ông T và bà T1 xác định có 02 con chung tên Lâm Cát Thiên K, sinh ngày 25/01/2019 và Lâm Mai Thiên K1, sinh ngày 29/7/2022, hiện sống cùng với bà T1.
Ông T có yêu cầu nuôi dạy con chung Lâm Cát Thiên K, đồng ý giao con chung Lâm Mai Thiên K1 cho bà T1 nuôi dạy. Các bên không cấp dưỡng qua lại nuôi con chung.
Bà T1 xác định các con chung hiện đang sống cùng với bà T1, từ nhỏ các con đã được bà T1 trực tiếp chăm sóc, có sự hỗ trợ của cha mẹ ruột.
Xét, 02 con chung hiện đang sống chung với bà T1 và gia đình bà T1 (mẹ bà T1 trực tiếp chăm sóc các con từ nhỏ). Mặc dù, bà T1 không trực tiếp chăm sóc nhưng đi làm có gửi tiền về cho mẹ ruột nuôi con, tại phiên tòa ông T cũng xác định. Ông T hiện đang sống cùng nhà với dì, anh trai, em trai và em dâu, không có nơi ở khác, hàng ngày đi bán vé số đến tối về nhà ngủ, không có đóng góp hay sinh hoạt chung gì với gia đình, việc bán vé số thu nhập cũng không định, mỗi ngày có thu nhập 200.000 đồng sau khi trừ chi phí. Ông T có cung cấp cho Tòa án chứng cứ việc bà T1 đang sống cùng với người đàn ông khác tại nhà trọ, cho rằng không đủ tư cách nuôi dạy con nhưng không có chứng cứ chứng minh được việc bà T1 không chăm sóc con đầy đủ hay ngược đãi các cháu. Tại phiên tòa, ông T cũng xác định từ khi bà T1 cùng các con về nhà cha mẹ ruột bà Thư sinh S, ông T không đến thăm nom cũng như không có gửi tiền nuôi các con chung, cháu T1 hiện nay đang đi học lớp mẫu giáo, khi gia đình ông T đến thăm cũng như rước cháu T1 về nhà chơi thì cũng được bà T1 và gia đình cho phép tạo điều kiện, không ngăn cản. Nhận thấy, cuộc sống hiện tại các cháu đang ổn định, có nơi ở đàng hoàng và được chăm sóc cho ăn học đầy đủ, không bị ngược đãi, bà T1 cũng có nguồn thu nhập ổn định chu cấp lo cho các con;
6
đồng thời, cháu Thiên K là nữ cần sự chăm sóc theo dõi của người mẹ, người thân trực tiếp chăm sóc là bà N. Để đảm bảo cuộc sống ổn định, sự phát triểm tâm sinh lý cũng như tránh xáo trộn cuộc sống của các cháu nên tiếp tục để cho bà T1 nuôi dạy các cháu. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu nuôi dạy con chung Lâm Cát Thiên Kim của ông T, chấp nhận yêu cầu nuôi dạy các con chung của bà T1, tiếp tục giao cho bà T1 nuôi dạy các con chung Lâm Cát Thiên K, sinh ngày 25/01/2019 và Lâm Mai Thiên K1, sinh ngày 29/7/2022;
Bà Nguyễn Thị Anh T1 cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
Bà T1 là người trực tiếp nuôi con nhưng không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Ông T và bà T1 thống nhất không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét đến.
[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Lâm Minh T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà ông T đã nộp. Bà Nguyễn Thị Anh T1 không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, Điều 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Minh T
[1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Lâm Minh T được ly hôn với bà Nguyễn Thị Anh T1.
[2] Về con chung: Bà Nguyễn Thị Anh T1 được tiếp tục nuôi dạy 02 con chung tên Lâm Cát Thiên K, sinh ngày 25/01/2019 và Lâm Mai Thiên K1, sinh ngày 29/7/2022. Ông Lâm Minh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà Nguyễn Thị Anh T1 cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Lâm Minh T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
7
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
[3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Ông Lâm Minh T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0006084 ngày 30 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc; ông T đã nộp đủ án phí.
Bà Nguyễn Thị Anh T1 không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo:
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông T có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Thời hạn kháng cáo của bà T1 vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thanh Ngọc |
Bản án số 16/2025/HNGĐ-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn
- Số bản án: 16/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HN Thương - Thư
