Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 16/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 20/02/2025

V/v tranh chấp ly hôn và con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Lâm Hoàng Huynh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Anh Việt;
  2. Bà Nguyễn Thuỳ Trang;

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Minh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bạch Nhạn - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 02 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 387/2024/TLST- HNGĐ, ngày 02/12/2024 về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07/01/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2025/QĐST – HN ngày 21/01/2025 giữa các đương sự

  1. Nguyên đơn: chị Đinh Ngọc T, sinh năm 1989.
  2. Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

  3. Bị đơn: anh Nguyễn Hữu P, sinh năm 1987.
  4. Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai khai nguyên đơn chị Đinh Ngọc T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh P quen biết nhau do mai mối, sau đó cả hai quyết định tiến tới hôn nhân, có tổ chức cưới, có đi đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Vợ chồng ban đầu chung sống hạnh phúc, nhưng về sau có nhiều mâu thuẩn do không hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống, anh P chỉ lo ăn chơi, không quan tâm chị và con cái, sau đó anh P có bỏ nhà đi theo người phụ nữ khác, cuộc sống vợ chồng dần mất đi hạnh phúc. Cả hai cũng không tạo điều kiện cho nhau để hàn gắn. Do đó chị T bỏ về nhà cha mẹ ruột ở, từ đó sống ly thân với anh P khoảng 06 năm, từ năm 2018 cho đến nay.

Hiện nay tình cảm không còn nên chị Đinh Ngọc T yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Hữu P.

- Về con chung: chị T và anh P có 02 con chung tên Nguyễn Hữu T1, sinh ngày 18/10/2013, và Nguyễn Thị Ngọc T2, sinh ngày 22/3/2018 (các con đang sống với chị T). Chị T yêu cầu được muôi hai con sau khi ly hôn, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: chị T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Hữu P đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ, nhưng anh P vẫn vắng mặt tại phiên hòa giải và tại phiên tòa, không có văn bản trình bày ý kiến.

Tại phiên tòa Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến:

  • - Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: thẩm phán đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đúng quan hệ pháp luật và tư cách của người tham gia tố tụng, thu thập đầy đủ chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án. Tuy nhiên, về thời gian gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu chưa đúng theo quy định.
  • - Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và thư ký: Tại phiên toà Hội đồng xét xử và thư ký đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã chấp hành đúng các quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng bị đơn không đến dự phiên tòa là chưa chấp hành theo Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu của chị Đinh Ngọc T được ly hôn với anh Nguyễn Hữu P. Về con chung: giao con chung tên Nguyễn Hữu T1, sinh ngày 18/10/2013, và Nguyễn Thị Ngọc T2, sinh ngày 22/3/2018 cho chị T chăm sóc nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn. Về cấp dưỡng nuôi con: do chị T không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết. Về nợ chung, tài sản chung: do đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Chị Đinh Ngọc T yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Hữu P là tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn được qui định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Nguyễn Hữu P cư trú tại xã P, huyện C nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Anh Nguyễn Hữu P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng tuy nhiên anh P vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, tiến hành xét xử vắng mặt anh P.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Chị Đinh Ngọc T và anh Nguyễn Hữu P chung sống với nhau trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên được pháp luật công nhận hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Vợ chồng sống hạnh phúc, nhưng về sau có nhiều mâu thuẩn do không hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống, anh P chỉ lo ăn chơi, không quan tâm chị và con cái, sau đó anh P có bỏ nhà đi theo người phụ nữ khác, cuộc sống vợ không hạnh phúc, từ đó chị T sống ly thân với anh P được khoảng 06 năm, từ năm 2018 cho đến nay.

Xét thấy mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, hạnh phúc; để đạt được mục đích đó vợ chồng chung sống với nhau phải có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy với nhau. Trong thời gian chung sống, chị T và anh P có nhiều mâu thuẩn, do anh P có người phụ nữ khác dẫn đến vợ chồng thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm sống, nên cả hai không còn chung sống với nhau, sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Thời gian sống ly thân cũng không ai cố gắng để hàn gắn tình cảm, điều đó chứng tỏ rằng giữa chị T, anh P mâu thẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, việc chị T yêu cầu ly hôn với anh P là có cơ sở. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T được ly hôn với anh P.

[2.2] Về con chung:

chị T và anh P có 02 con chung tên Nguyễn Hữu T1, sinh ngày 18/10/2013, và Nguyễn Thị Ngọc T2, sinh ngày 22/3/2018 ( các con đang sống với chị T). Chị T yêu cầu được nuôi con chung sau khi ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy từ lúc chị T và anh P sống ly thân thì các con chung do chị T chăm sóc nuôi dưỡng, hiện tại các cháu cũng đang sống cùng chị T. Cuộc sống của các cháu đã ổn định, chị T cũng chăm sóc các cháu tốt và vẫn đảm bảo việc phát triển bình thường của các cháu. Cháu T1 và cháu T2 cũng có văn bản ý kiến muốn được sống với chị T. Do đó, để đảm bảo quyền lợi của các cháu, nên giao cháu Nguyễn Hữu T1 và Nguyễn Thị Ngọc T2 cho chị T nuôi dưỡng sau khi ly hôn là phù hợp. Do chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung:

chị T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết do đó Tòa án không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí:

Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/TBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc hội. chị T phải chịu P bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
  • - Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/TBTVQH14 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc hội ban hành ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim T3.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Ngọc T được ly hôn với anh Nguyễn Hữu P.
  2. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Hữu T1, sinh ngày 18/10/2013 và Nguyễn Thị Ngọc T2, sinh ngày 22/3/2018 cho chị Đinh Ngọc T chăm sóc nuôi dưỡng sau khi ly hôn (các con đang sống với chị T), chị Đinh Ngọc T không yêu cầu anh Nguyễn Hữu P cấp dưỡng nuôi con.

Anh Nguyễn Hữu P có quyền đến thăm nom, chăm sóc các con chung không ai được cản trở.

  1. Về tài sản chung, nợ chung: chị Đinh Ngọc T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết do đó Tòa án không xem xét giải quyết.
  2. Về án phí: Chị Đinh Ngọc T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị Đinh Ngọc T đã nộp ngày 02/12/2024 theo biên lai số 0013819 tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành được chuyển thành án phí chị T phải nộp.

  1. Nguyên đơn chị Đinh Ngọc T, bị đơn anh Nguyễn Hữu P được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKS nhân dân huyện Châu Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Châu Thành;
  • - UBND xã Phú Long
  • số 98/2019 ngày 30/9/2013;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phan Lâm Hoàng Huynh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2025/HNGĐ-ST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp ly hôn và con chung

  • Số bản án: 16/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger