TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 16/2025/HNGĐ - ST Ngày: 12/03/2025. “V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Bình
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lại Thiện Phong
2. Ông Lâm Thái Hiệp
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Nhã Trúc – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Dân tham gia phiên tòa: Ông Danh Đạt - Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 03 năm 2025 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hồng Dân mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 41/2025/TLST – HNGĐ, ngày 14 tháng 02 năm 2025 về việc tranh chấp xin ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 20 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ch, sinh ngày 06/02/1994
Địa chỉ: ấp BD, xã LN, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.
2. Bị đơn: Anh Phạm Văn Rắng E, sinh ngày 09/03/1990
Địa chỉ: ấp NT, xã NQA, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.
(Chị Nguyễn Thị Ch và anh Phạm Văn Rắng E vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và tại bản tự khai ngày 14/02/2025, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ch trình bày:
Về hôn nhân: Vào khoảng năm 2013, Chị Ch và anh E có tổ chức đám cưới với nhau trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc nhưng đến nay không có tiến hành đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng anh chị chung sống với nhau hạnh phúc nhưng được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm trong cuộc sống và hiện tại hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau khoảng 04 năm nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên Chị Ch yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Văn Rắng E.
Về con chung: Chị Ch xác định trong thời gian chung sống, giữa chị và anh E có 01 người con chung là cháu Phạm Long T, sinh ngày 03/09/2015. Hiện tại cháu Tam đang sống với anh E. Chị Ch đồng ý giao cháu Phạm Long T, sinh ngày 03/09/2015 cho anh E nuôi dưỡng và chị không phải cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Ch xác định giữa chị và anh E không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, Chị Ch không có yêu cầu gì khác.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 14/02/2025, bị đơn anh Phạm Văn Rắng E trình bày:
Về hôn nhân: Vào khoảng năm 2013, anh E và Chị Ch có tổ chức đám cưới với nhau trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc nhưng đến nay không có tiến hành đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng anh chị chung sống với nhau hạnh phúc nhưng được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm trong cuộc sống và hiện tại hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau khoảng 04 năm nay. Nay vợ anh yêu cầu ly hôn với anh thì anh đồng ý.
Về con chung: Anh E xác định trong thời gian chung sống, giữa anh và Chị Ch có 01 người con chung là cháu Phạm Long T, sinh ngày 03/09/2015. Hiện tại cháu Tam đang sống với anh E. Anh E yêu cầu được nuôi cháu Phạm Long T, sinh ngày 03/09/2015 và anh không yêu cầu cấp dưỡng cho cháu Tam.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh E xác định giữa anh và Chị Ch không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, anh E không có yêu cầu gì khác.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định pháp luật.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Từ khi tham gia tố tụng cho đến nay, nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Thị Ch và anh Phạm Văn Rắng E là vợ chồng;
2. Về quan hệ con chung: Tiếp tục giao cháu Phạm Long T, sinh ngày 03/09/2015 cho anh Phạm Văn Rắng E nuôi dưỡng và chị Nguyễn Thị Ch không phải cấp dưỡng cho con;
3. Về quan hệ tài sản: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Ngoài ra đương sự còn phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật: Chị Nguyễn Thị Ch khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Văn Rắng E và yêu cầu giải quyết về con chung nên căn cứ khoản 7 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án thụ lý giải quyết vụ án về “Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con” là đúng quy định.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Phạm Văn Rắng E có nơi đăng ký thường trú tại ấp NT, xã NQA, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
[3] Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ch và bị đơn anh Phạm Văn Rắng E tuy rằng vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt đối với Chị Ch và anh E.
Về nội dung vụ án:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ch yêu cầu xin ly hôn với anh Phạm Văn Rắng E. Hội đồng xét xử xét thấy: Chị Ch và anh E thừa nhận vào khoảng năm 2013, Chị Ch và anh E có tổ chức đám cưới với nhau trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc nhưng đến nay anh chị chưa tiến hành đăng ký kết hôn. Nay Chị Ch xin ly hôn với anh E thì anh E cũng đồng ý. Tuy nhiên, theo Khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này mà chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng”. Do đó, căn cứ Điều 53 Luật hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử không công nhận chị Nguyễn Thị Ch và anh Phạm Văn Rắng E là vợ chồng.
[2] Về quan hệ con chung: Chị Ch và anh E xác định trong quá trình chung sống giữa Chị Ch và anh E có 01 người con chnung là cháu Phạm Long T, sinh ngày 03/09/2015. Anh E yêu cầu được nuôi cháu Phạm Long T và Chị Ch đồng ý giao cháu Tam cho anh E nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy cháu Phạm Long T, sinh ngày 03/09/2015 hiện đang sống chung với anh E, cháu đã có môi trường và cuộc sống ổn định đồng thời cháu Tam cũng có nguyện vọng được theo sống chung với anh E. Vì vậy Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu Phạm Long T, sinh ngày 03/09/2015 cho anh E nuôi dưỡng, anh E không yêu cầu cấp dưỡng cho con nên không xem xét giải quyết, Chị Ch không phải cấp dưỡng nuôi con chung nhưng chị có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
[3] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị Ch và anh E xác định giữa anh chị không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[4] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Ch phải chịu số tiền 300.000 đồng.
Về ý kiến phát biểu việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử xét thấy việc đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ và được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 7 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 9, Điều 14, Điều 15, Điều 53, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Áp dụng Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cáo về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân gia đình.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Thị Ch và anh Phạm Văn Rắng E là vợ chồng.
2. Về quan hệ con chung: Tiếp tục giao cháu Phạm Long T, sinh ngày 03/09/2015 cho anh Phạm Văn Rắng E nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị Nguyễn Thị Ch không phải cấp dưỡng nuôi con chung nhưng chị có quyền và nghĩa vụ tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở;
3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Ch và anh Phạm Văn Rắng E không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết;
4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Thị Ch phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng Chị Ch đã dự nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0004129, ngày 14/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nay chuyển thu toàn bộ số tiền trên thành án phí.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ. Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp và cấp trên được quyền kháng nghị bản án này theo quy định pháp luật./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Văn Bình |
Bản án số 16/2025/HNGĐ - ST ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 16/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn đơn yêu cầu ly hôn và giải quyết về con chung
