TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH THÁI NGUYÊN | Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 16 /2025/HNGĐ- ST
Ngày: 09/6/2025
“V/v: Ly hôn”
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Hồng Thái
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Hoài Linh
2. Bà Phạm Thị Hồng Hạnh
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa:Bà Nguyễn Thu Hoài – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Trần Lý Thu Thảo – Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, thụ lý số: 37/2025/TL-ST ngày 04 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST ngày 05 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Phạm Ngọc T, sinh năm 2001;
Nơi cư trú: TDP T, phường Đ, thành phố T,tỉnh Thái Nguyên.
(Có mặt tại phiên toà)
2. Bị đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 2004;;
Nơi cư trú: Xóm A, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
( Vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai tại phiên toà, anh Phạm Ngọc T trình bày: Anh và chị Trần Thị H quen nhau trên mạng Facebook qua những tin nhắn gửi cho nhau trong khoảng thời gian ngắn sau đó anh và chị Trần Thị H tự ý đến UBND xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên để đăng ký kết hôn, anh không nói cho bố mẹ anh biết về việc đăng ký kết hôn giữa anh và chị H. Khi anh đưa chị H về nhà, bố mẹ anh cũng chỉ khuyên bảo rằng tuổi anh còn trẻ, chưa có công ăn việc làm phải tìm hiểu cho kỹ và chín chắn, mấy lần anh đưa chị H về
nhà chơi thì thái độ của chị H không gây thiện cảm cho gia đình anh. Chị H ăn mặc áo hai dây, quần váy ngắn cũn cỡn, nói chuyện không có đầu có cuối, ăn nói trống không nên bố mẹ anh không hài lòng. Bố đẻ chị H mắc nghiện ma túy, mẹ bỏ đi khỏi nhà, chị H không có người chăm sóc dạy dỗ đến nơi đến chốn nên chị H sớm ra ngoài xã hội va chạm với cuộc sống tạo nên con người sống không chân thật. Sau khi anh và chị H đi đăng ký kết hôn, anh không về nhà ở cùng bố mẹ mà anh và chị H đi thuê phòng trọ ở, lúc này anh mới biết chị H đã có 02 đứa con nhỏ, mỗi đứa 1 bố; 1 cháu hiện do chị H đang nuôi còn 01 cháu chị H trả về cho bố đứa bé nuôi. Anh thật sự bất ngờ về điều này và tự trách mình không tìm hiểu kỹ. Trong cuộc sống hàng ngày chị H thường xuyên gửi con cho bà nội chị H trông nom để chị đi phục vụ quán hát karaoke bên thành phố T. Anh có khuyên can chị H không nên đi làm ở quán hát mà cần đi tìm việc khác làm nhưng chị H không nghe lời anh khuyên mà còn gây sự chửi bới anh, chặn hết các cuộc gọi điện thoại của anh. Anh đăng ký kết hôn với chị H ngày 7/3/2024 ở với nhau đến ngày 15/9/2024 thì chấm dứt, hiện nay anh và chị H không còn ở chung với nhau nữa.Từ ngày 15/9/2024 anh lại trở về nhà kể hết mọi chuyện của anh và chị H cho bố mẹ anh biết. Anh biết chị H đã lừa dối anh trong chuyện tình cảm vì vậy anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân khong đạt được, anh xin được ly hôn chị H để ổn định cuộc sống.
+ Về con chung: Vợ chồng không có.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Không có
+ Về án phí: Anh nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm vào Ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.
Sau khi Tòa án nhân dân huyện Đ thụ lý vụ án ly hôn, và cùng trưởng xóm đến gia đình chị H để tống đạt thông báo thụ lý vụ án và giấy triệu tập cho chị H đến Toà án viết bản tự khai và tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải với anh T nhưng chị H không có mặt vì vậy Tòa án thực hiện niêm yết theo quy định của pháp luật để giải quyết vụ án.
Toà án lập biên bản xác minh tại Công an xã K về số định danh cá nhân của chị Trần Thị H tại Cơ sở D về dân cư, được biết chị Trần Thị H có số định danh cá nhân là: 09304003279.
Công an xã K kết hợp với Trưởng xóm A, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên về nơi cư trú của chị Trần Thị H được biết: Chị Trần Thị H, sinh năm 2004 hiện vẫn đang cư trú tại địa phương, ở cùng với chủ hộ Trần Văn C, sinh năm 1995( là anh trai của chị H) hiện chị H đi làm ăn, thi thoảng vẫn trở về nhà, ở 1-2 hôm rồi lại đi. Do không thực hiện được tống đạt các văn bản tố tụng cho chị H nên Tòa án lập biên bản niêm yết các văn bản tố tụng như: Thông báo về
việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Giấy triệu tập phiên tòa lần 1, lần 2 đối với chị Trần Thị H tại xóm A, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên và trụ sở TAND huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên phát biểu ý kiến về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án, người tham gia tố tụng là nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn đã vi phạm quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Anh Phạm Ngọc T và chị Trần Thị H kết hôn năm 2024, do hai bên tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên là hôn nhân hợp pháp. Mâu thuẫn vợ chồng do bất đồng quan điểm sống, cả hai bên đã sống ly thân tháng 9/2024 đến nay, anh T xác định tình cảm vợ chồng không còn. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 cho anh Phạm Ngọc T được ly hôn chị Trần Thị H; Về con chung: Không có; Về tài sản chung, nợ chung: anh T xác định không có. Chị H không hợp tác giải quyết vụ án và không có lời khai về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng, đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết trong vụ án ly hôn này; Về án phí: Anh Phạm Ngọc T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về tố tụng: Đây là vụ án Hôn nhân và gia đình về việc: “ Ly hôn ” quy định tại khoản 1 Điều 28; Chị H đăng ký thường trú tại xã K, huyện Đ. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Tòa án đã niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng như thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập phiên tòa lần 1, lần 2 cho chị Trần Thị H theo đúng quy định tại Điều 177 BLTTDS năm 2015 nhưng chị H vẫn vắng mặt không có lý do là không có ý thức chấp hành pháp luật vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ Điều 177, 179, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Trần Thị H.
* Về nội dung:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Ngọc T và chị Trần Thị H kết hôn năm 2024, do hai bên tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận là vợ chồng. Lý do anh T xin ly hôn chị H, theo anh T khai là do anh và chị H quen nhau trên mạng Facebook, không tìm hiểu kỹ về nhau, chị H nói dối anh về hoàn cảnh đời sống riêng của chị H, chị H đã có 02 con nhỏ, mỗi con là một người bố, công việc của chị H là đi phục vụ quán hát karaoke anh có khuyên can chị H không nên đi làm ở quán hát mà cần đi tìm việc làm khác thì chị H và anh cãi nhau, chặn hết các cuộc gọi điện thoại của anh. Anh Tú xác định thời gian chung sống với chị H từ ngày 7/3/2024 đến ngày 15/9/2024 thì chấm dứt quan hệ vợ chồng, hiện nay anh và chị H không còn ở chung với nhau. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, anh xin được ly hôn chị H để ổn định cuộc sống.
Khi Tòa án thụ lý hồ sơ và triệu tập hai bên đến Tòa án viết bản tự khai nhưng chị H không hợp tác giải quyết vụ án. Tòa án đã thực hiện niêm yết các văn bản tố tụng để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
HĐXX xét thấy hai bên đều không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng, tình trạng hôn nhân hiện nay hai vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 9/2024, không quan tâm gì đến nhau như vậy hôn nhân giữa anh T và chị H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu duy trì quan hệ hôn nhân sẽ không mang lại hạnh phúc cho cả hai bên. Do đó chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của anh T, cho anh Phạm Ngọc T được ly hôn chị Trần Thị H là phù hợp với thực tế và Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.
[2] Về con chung: Không có.
[3] Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không giải quyết do anh T không có yêu cầu.
[4] Về án phí: Anh Tú phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm vào Ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.
[5] Quyền kháng cáo: Anh Phạm Ngọc T và chị Trần Thị H có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 177, 179, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, 271, 273, 482, 483 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 19, 51,56, 57 Luật hôn nhân gia đình;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Luật thi hành án dân sự
Tuyên xử:
1.Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của anh Phạm Ngọc T, cho anh T được ly hôn chị Trần Thị H. Quan hệ hôn nhân giữa anh Phạm Ngọc T và chị Trần Thị H chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Không có.
3.Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không giải quyết do anh T không yêu cầu.
4. Về án phí: Anh Phạm Ngọc T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm vào Ngân sách Nhà nước, được chuyển từ tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0007431 ngày 04/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, anh Phạm Ngọc T có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị Trần Thị H vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Mai Thị Hồng Thái |
Bản án số 16/2025/HNGĐ- ST ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn
- Số bản án: 16/2025/HNGĐ- ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1.Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của anh Phạm Ngọc T, cho anh T được ly hôn chị Trần Thị H. Quan hệ hôn nhân giữa anh Phạm Ngọc T và chị Trần Thị H chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
