Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VẠN NINH

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2025/HNGĐ-ST

Ngày 09 tháng 4 năm 2025

V/v tranh chấp “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Minh Hưng

ải Hải

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Tám

Ông Huỳnh Thái Việt

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Phạm Trúc Vân – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Hồng Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 277/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị M, sinh năm: 1995

Địa chỉ: Thôn P, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa; Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc H, sinh năm: 1995

Địa chỉ: Thôn P, xã V, huyện V huyện V, tỉnh Khánh Hòa;

Hiện đang cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Khánh Hòa; Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai và biên bản hòa giải, nguyên đơn bà Lê Thị M trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Nguyễn Quốc H tự nguyện kết hôn năm 2015, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Thời gian đầu chung sống vợ chồng hạnh phúc nhưng càng về sau thì giữa vợ chồng càng xảy ra mâu thuẫn do cả hai bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên xích mích kình cãi. Dần dần tình cảm giữa tôi và ông H dần ngày càng phai nhạt. Từ năm 2021, tôi và ông H không còn chung sống với nhau cho đến nay. Hiện tại tôi xác định bản thân không còn tình cảm với ông H nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông H.

Về con chung: Chúng tôi có 03 (ba) con chung, tên là Nguyễn Quốc H1, sinh ngày: 21/3/2014; Nguyễn Quốc H2, sinh ngày 07/9/2016 và Nguyễn Quốc H3, sinh ngày 03/5/2021. Tôi yêu cầu được tiếp tục nuôi các con chung và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Chúng tôi không có tài sản chung cũng như không có nợ chung, nên không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.

* Bị đơn ông Nguyễn Quốc H có lời khai tại Biên ban lấy lời khai đề ngày 05/3/2025:

Ông Nguyễn Quốc H thống nhất với lời trình bày của bà Lê Thị M về thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống giữa hai vợ chồng không có mâu thuẫn gì nhưng đến năm 2022 bà M tự ý dẫn các con về nhà mẹ đẻ mà không nói gì với ông. Ông có qua nhà bố mẹ của bà M để hỏi lý do nhưng bà M không trả lời. Từ năm 2022 cho đến nay, ông và bà M không còn sống chung, chỉ thi thoảng ông mới qua thăm nom các con chung. Nay bà M yêu cầu được ly hôn với ông, ông không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 03 (ba) con chung, tên là Nguyễn Quốc H1, sinh ngày: 21/3/2014; Nguyễn Quốc H2, sinh ngày 07/9/2016 và Nguyễn Quốc H3, sinh ngày 03/5/2021. Ông H đồng ý giao cho bà M trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng các con chung vì hiện nay ông đang thực hiện việc cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Khánh Hòa nên không thể trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng các con chung

Về tài sản chung và nợ chung: Ông H và bà M không có tài sản chung cũng như không có nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa:

  1. Nguyên đơn bà Lê Thị M và bị đơn ông Nguyễn Quốc H đều vắng mặt.
  2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh phát biểu ý kiến:

    - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

    - Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, bà Lê Thị M được ly hôn ông Nguyễn Quốc H; Về con chung: Giao 03 (ba) con chung, tên là Nguyễn Quốc H1, sinh ngày: 21/3/2014; Nguyễn Quốc H2, sinh ngày 07/9/2016 và Nguyễn Quốc H3, sinh ngày 03/5/2021 cho bà M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi ly hôn; Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của ông H do bà M không yêu cầu; Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết; Về án phí: Nguyên đơn chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét ý kiến trình bày của đương sự và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Lê Thị M khởi kiện ông Nguyễn Quốc H có địa chỉ cư trú tại Thôn P, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa về việc “Ly hôn” là thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015.

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt, nhưng có đề nghị xét xử vắng mặt; Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân và gia đình: Bà Lê Thị M và ông Nguyễn Quốc H tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2015, tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 102, ngày đăng ký: 20/11/2015. Đây là hôn nhân hợp pháp.

Qua lời khai của nguyên đơn và bị đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng: Quan hệ hôn nhân giữa bà M và ông H không hạnh phúc do cả hai không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, làm phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được. Mặc dù ông H không đồng ý ly hôn nhưng ông H và bà M đều thừa nhận việc cả hai không còn sống chung với nhau từ năm 2022 và ông H hiện tại cũng đang thực hiện Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đứa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 126/QĐ-TA ngày 01/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh.

Do vậy, Hội đồng xét xử thấy mục đích hôn nhân của bà M và ông H không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Lê Thị M là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về con chung: Các đương sự khai có 03 (ba) con chung, tên là Nguyễn Quốc H1, sinh ngày: 21/3/2014; Nguyễn Quốc H2, sinh ngày 07/9/2016 và Nguyễn Quốc H3, sinh ngày 03/5/2021. Bà M yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Các con chung là Nguyễn Quốc H1, sinh ngày: 21/3/2014; Nguyễn Quốc H2, sinh ngày 07/9/2016 và Nguyễn Quốc H3, sinh ngày 03/5/2021 hiện đang sinh sống ổn định với mẹ và tại các biên bản lấy lời khai cháu H1 và cháu H2 đều có nguyện vọng được sống với mẹ sau khi ba mẹ ly hôn. Mặt khác, ông Nguyễn Quốc H hiện đang thực hiện Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đứa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 126/QĐ-TA ngày 01/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh và ông H cũng thống nhất với bà M về vấn đề con chung. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định giao các con chung là Nguyễn Quốc H1, sinh ngày: 21/3/2014; Nguyễn Quốc H2, sinh ngày 07/9/2016 và Nguyễn Quốc H3, sinh ngày 03/5/2021 cho bà Lê Thị M tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục sau ly hôn, là hợp lý.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Lê Thị M không yêu cầu ông Nguyễn Quốc H cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này đương sự có yêu cầu sẽ được xem xét, giải quyết bằng vụ án khác, khi có đơn khởi kiện.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự khai không có tài sản chung, không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này các bên đương sự có yêu cầu sẽ được xem xét, giải quyết bằng vụ án khác, khi có đơn khởi kiện

[6] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bà Lê Thị M phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) mà bà M đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0007280 ngày 24/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vạn Ninh. Bà Lê Thị M đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 266 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. 1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Lê Thị M được ly hôn ông Nguyễn Quốc H.
  2. 2. Về con chung: Giao 03 (Một) con chung là Nguyễn Quốc H1, sinh ngày: 21/3/2014; Nguyễn Quốc H2, sinh ngày 07/9/2016 và Nguyễn Quốc H3, sinh ngày 03/5/2021 cho bà Lê Thị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, sau khi ly hôn.

    Ông Nguyễn Quốc H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở; Đồng thời có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi dưỡng.

  3. 3. Về cấp dưỡng: Nguyên đơn bà Lê Thị M không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này đương sự có yêu cầu sẽ được xem xét, giải quyết bằng vụ án khác khi có đơn khởi kiện.

    Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, các bên có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng và người trực tiếp nuôi con chung.

  4. 4. Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này các bên đương sự có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng vụ án khác khi có đơn khởi kiện.
  5. 5. Về án phí: Bà Lê Thị M phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) mà bà M đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0007280 ngày 24/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vạn Ninh. Bà Lê Thị M đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
  6. 6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

PHẠM TÁM

ĐÀO MINH TUẤN

HUỲNH THÁI VIỆT

Nơi nhận:

THẨM

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND huyện Vạn Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Vạn Ninh;
  • - UBND xã Vạn Phú, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa (GCNKH số 102, ngày: 20/11/2015);
  • - Lưu: Án văn + hồ sơ.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2025/HNGĐ-ST ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH, TỈNH KHÁNH HÒA về ly hôn

  • Số bản án: 16/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH, TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger