TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 16/2025/HNGĐ-ST Ngày 08 - 4 - 2025 “V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quýnh;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thanh Thủy và Ông Trần Ngọc Chiến;
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên tòa:
Bà Phạm Thu Huyền – Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 05/2025/ TLST – HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: anh Vòong Đình L, sinh năm: 1977; nơi thường trú: tổ A, khu F, phường M, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.
Bị đơn: chị Phạm Thị H, sinh năm: 1982; nơi thường trú: tổ A, khu F, phường M, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh (đã bị tuyên bố mất tích theo Quyết định giải quyết việc dân sự số: 06/2024/QĐST-DS ngày 11/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh), vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện ngày 06/01/2025, lời tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn anh Vòong Đình L đều trình bày: anh và chị Phạm Thị H kết hôn vào năm 2002 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố C. Trước khi kết hôn anh chị có thời gian tìm hiểu nhau 02 năm, sau khi kết hôn anh chị về sống cùng với mẹ đẻ anh tại tổ A, khu F, phường M, thành phố C. Cuộc sống chung của vợ chồng anh hạnh phúc cho đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do chị H chơi họ dẫn đến bị vỡ nợ, sau đó đến ngày 02/10/2018 thì chị H bỏ nhà đi cho đến nay không thấy trở về, trong nhiều năm sau đó một mình anh vừa lo gánh vác toàn bộ trách nhiệm trong gia đình vừa cùng với gia đình hai bên tìm kiếm chị H nhiều nơi nhưng không có tin tức xác thực gì. Năm 2024 anh đã làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố chị H mất tích, ngày 11/11/2024, Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả đã mở phiên họp tuyên bố chị H mất tích theo Quyết định giải quyết việc dân sự số 06/2024/QĐST-DS. Từ sau đó cho đến nay chị H cũng không có tin tức gì, không trở về, để ổn định cuộc sống gia đình anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị H.
+ Về con chung: anh và chị Phạm Thị H có 03 con chung: Voòng Thúy H1, sinh ngày 23/3/2003 (đã thành niên và hoàn toàn khỏe mạnh); Voòng Thùy L1, sinh ngày 11/8/2007 và Voòng Gia B, sinh ngày 03/01/2012. Do chị H bỏ đi từ nhiều năm một mình anh vẫn đảm bảo việc nuôi dạy các con chung, đến nay chị H đã bị tuyên bố mất tích nên khi ly hôn anh đề nghị Tòa án giao cho anh được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung Voòng Thùy L1 và Voòng Gia B cho đến tuổi thành niên (tròn 18 tuổi), anh không yêu cầu chị H cấp dưỡng cho con chung.
+ Về tài sản chung: anh và chị H không có tài sản và công nợ chung.
* Bị đơn - chị Phạm Thị H đã bị Tòa án tuyên bố mất tích, Tòa án cũng đã triệu tập hợp lệ chị Phạm Thị H nhiều lần, chị H không có quan điểm gì về quan hệ hôn nhân, con chung cũng như tài sản và công nợ chung. Tòa án căn cứ vào tài liệu do nguyên đơn cung cấp, các chứng cứ đã thu thập được để xem xét, giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên theo quy định của pháp luật.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả có ý kiến cho rằng Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quan hệ tranh chấp và áp dụng các quy định của pháp luật giải quyết vụ án chính xác. Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa, căn cứ các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả đề nghị chấp nhận đơn khởi kiện của anh Vòong Đình L, anh L được ly hôn với chị H; về con chung: giao cho anh L có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung Voòng Thùy L1, sinh ngày 11/8/2007, Voòng Gia B, sinh ngày 03/01/2012 cho đến khi trưởng thành; tài sản chung: không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: anh Vòong Đình L yêu cầu xin ly hôn với chị Phạm Thị H có nơi cư trú cuối cùng tại địa bàn thành phố C nên Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả thụ lý giải quyết với quan hệ pháp luật “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” là đúng quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chị Phạm Thị H đã bị Tòa án tuyên bố mất tích nên Tòa án quyết định xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại các Điều 207, 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung vụ án:
* Về quan hệ hôn nhân: cuộc hôn nhân giữa anh Vòong Đình L và chị Phạm Thị H là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố C vào năm 2002. Theo anh L trình bày, sau kết hôn anh chị về sống cùng gia đình nhà nội tại tổ A, khu F, phường M, thành phố C, cuộc sống chung của anh chị hạnh phúc cho đến năm 2018 thì mới phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị H chơi họ dẫn đến vỡ nợ rồi bỏ nhà đi từ ngày 02/10/2018 cho đến nay không trở về gia đình. Anh H đã làm đơn yêu cầu Toà án tuyên bố chị Phạm Thị H mất tích, tại Quyết định giải quyết việc dân sự số 06/2024/QĐST-DS ngày 11/11/2024 Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả đã tuyên bố chị H mất tích. Từ sau đó cho đến nay anh L khẳng định chị H cũng không có tin tức gì, không trở về, lời khai của anh H cũng phù hợp với kết quả xác minh, thu thập chứng cứ do đại diện khu phố nơi anh L cư trú cung cấp: “Kể từ thời điểm Tòa án niêm yết quyết định tuyên bố chị Phạm Thị H mất tích đến nay, khu phố không thấy chị H trở về lần nào...... gia đình anh L đến nay vẫn chưa có thông tin gì của chị H. Chị H bỏ đi biệt tích nhiều năm nay, anh L một mình nuôi ba con ăn học, con lớn đã xây dựng gia đình, chăm sóc mẹ già nên cuộc sống cũng khó khăn, vất vả mà không có người chia sẻ, gánh vác cùng. Việc anh L có đơn xin ly hôn chị H là nguyện vọng cá nhân của anh L, khu phố không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định”. Lời khai của anh L còn phù hợp với ý kiến của các con chung của anh L và chị H, do đó Hội đồng xét xử có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Vòong Đình L theo quy định tại khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
* Về con chung: anh Vòong Đình L và chị Phạm Thị H có 03 con chung là: Voòng Thúy H1, sinh ngày 23/3/2003 (đã thành niên và hoàn toàn khỏe mạnh); Voòng Thùy L1, sinh ngày 11/8/2007 và Voòng Gia B, sinh ngày 03/01/2012. Khi ly hôn anh L đề nghị Tòa án giao cho anh được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung Voòng Thùy L1 và Voòng Gia B cho đến tuổi thành niên (tròn 18 tuổi), anh L không yêu cầu chị H cấp dưỡng cho con, hiện anh L cũng có việc làm, có thu nhập và chỗ ở ổn định đảm bảo được việc nuôi dưỡng con chung phát triển tốt. Do chị H đã bị Tòa án tuyên bố mất tích, không có quan điểm về con chung, căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử thấy cần thiết giao cả hai con chung chưa thành niên cho anh L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi) là phù hợp, đảm bảo được quyền lợi chính đáng và sự phát triển tốt nhất cho con chung của anh chị.
* Về tài sản chung: anh Vòong Đình L xác định vợ chồng không có tài sản và công nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: anh Vòong Đình L phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147; điểm b khoản 2 Điều 227, các Điều 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 39, khoản 2 Điều 68 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: xử chấp nhận đơn khởi kiện của anh Vòong Đình L, cho ly hôn giữa anh Vòong Đình L và chị Phạm Thị H.
- Về con chung: anh Vòong Đình L và chị Phạm Thị H có 03 con chung là: Voòng Thúy H1, sinh ngày 23/3/2003 (đã thành niên, hoàn toàn khỏe mạnh); Voòng Thùy L1, sinh ngày 11/8/2007 và Voòng Gia B, sinh ngày 03/01/2012. Giao 02 con chung là Voòng Thùy L1 và Voòng Gia B cho anh Vòong Đình L có quyền, nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Chị Phạm Thị H không phải cấp dưỡng cho con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom các con mà không ai được cản trở.
- Về án phí: anh Vòong Đình L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh L đã nộp ngày 13/01/2025 theo biên lai số: 0000815 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Báo cho biết: nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Quýnh |
Bản án số 16/2025/HNGĐ-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 16/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Voong Đinh L với chị Phạm Thị H
