Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 07 - 3 -2025

V/v "Ly hôn"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Thanh Hải

Bà Hà Thị Dung

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thùy Dương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Thủy – Kiểm sát viên

Ngày 07 tháng 3 năm 2025, tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 60/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2024 về "Ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXX-ST ngày 26 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Triệu Thị T, sinh năm 1974

    Nơi thường trú trước khi xuất cảnh: Xóm Đ, xã B, huyện V, tỉnh Thái Nguyên

    Hiện nay ở thị trấn T, huyện M, Đài Loan

    (có đơn xin xét xử vắng mặt)

  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1979

    Nơi thường trú: Xóm Đ, xã B, huyện V, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai nguyên đơn chị Triệu Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn Q đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã B, huyện V, tỉnh Thái Nguyên. Thời gian đầu anh chị chung sống hạnh phúc, hòa thuận. Đến năm 2020 vì điều kiện gia đình khó khăn nên chị sang nước ngoài làm ăn để xây dựng kinh tế gia đình. Từ đó anh chị thường xuyên nảy sinh nhiều mâu thuẫn do khoảng cách địa lý xa xôi, mỗi người một nơi, cả hai bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, tình cảm xa cách. Anh chị đã nhiều lần nói chuyện để hàn gắn, được gia đình hai bên động viên nhưng không có kết quả. Nay chị T xác định tình cảm không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn Q.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Nguyễn Triệu H, sinh ngày 28/9/2002 và Nguyễn Triệu H1, sinh ngày 03/9/2004. Nay hai cháu đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai, bị đơn anh Nguyễn Văn Q trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh xác định chị T khai như vậy là đúng. Anh biết việc chị T xin ly hôn, anh không nhất trí ly hôn với chị T. Trường hợp chị T cương quyết ly hôn, anh cũng nhất trí.

Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Triệu H, sinh ngày 28/9/2002 và Nguyễn Triệu H1, sinh ngày 03/9/2004. Nay hai cháu đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Tuân thủ đúng các quy định của pháp luật; Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Về đường lối giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Triệu Thị T, cho chị T được ly hôn anh Nguyễn Văn Q. Về con chung: Nguyễn Triệu H, sinh ngày 28/9/2002 và Nguyễn Triệu H1, sinh ngày 03/9/2004 đã trưởng thành nên không xem xét. Tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Chị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Triệu Thị T là nguyên đơn có nơi thường trú trước khi đi nước ngoài ở Xóm Đ, xã B, huyện V, tỉnh Thái Nguyên. Hiện nay ở thị trấn T, huyện M, Đài Loan. Đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ của chị T gửi đến Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đều có chứng thực của Văn phòng K tại Đ. Do vậy, có đủ cơ sở xác định nội dung các văn bản của chị Triệu Thị T nộp tại Tòa án là đúng ý chí, nguyện vọng của chị T. Anh Nguyễn Văn Q là bị đơn có địa chỉ thường trú tại Xóm Đ, xã B, huyện V, tỉnh Thái Nguyên. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 37 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

Hiện nay chị T đang làm việc tại Đài Loan, có đơn xin xét xử vắng mặt có xác nhận của Văn phòng K tại Đ, anh Q có ý kiến xin được xét xử vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại Điều 228, Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Hôn nhân giữa chị Triệu Thị T và anh Nguyễn Văn Q trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã B, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam là hôn nhân hợp pháp.

Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng, chị T xác định là do từ 2020 vì điều kiện gia đình khó khăn nên chị sang nước ngoài làm ăn để xây dựng kinh tế gia đình. Từ đó anh chị thường xuyên nảy sinh nhiều mâu thuẫn do khoảng cách địa lý xa xôi, mỗi người một nơi, cả hai bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, tình cảm xa cách. Chị T xác định tình cảm vợ chồng với anh Q không còn và đề nghị được ly hôn với anh Q. Anh Q có ý kiến không muốn ly hôn, nhưng chị T vẫn cương quyết ly hôn thì anh nhất trí. Như vậy, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng chị Triệu Thị T và anh Nguyễn Văn Q đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T, cho chị T được ly hôn với anh Q là phù hợp thực tế và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam.

Về con chung: Chị Triệu Thị T và anh Nguyễn Văn Q có 02 con chung là Nguyễn Triệu H, sinh ngày 28/9/2002 và Nguyễn Triệu H1, sinh ngày 03/9/2004. Hai cháu đã trưởng thành, Tòa án không giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Xác định không có. Hội đồng xét xử không giải quyết.

[3] Án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm

[4] Về đường lối giải quyết vụ án được đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 28; 37; khoản 2 Điều 38; Điều 147; Điều 207; Khoản 1 Điều 228 và khoản 5 Điều 477 và Điều 479 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 51; Điều 56; Điều 127 Luật hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Triệu Thị T đối với anh Nguyễn Văn Q

  1. Về hôn nhân: Cho chị Triệu Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn Q.
  2. Về con chung: Không giải quyết.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu xem xét giải quyết. Hội đồng xét xử không giải quyết.
  4. Án phí: Chị Triệu Thị T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí ly hôn đã nộp, biên lai số 0000205 ngày 07/11/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.

Chị Triệu Thị T được quyền kháng cáo bản án trong hạn một tháng kể từ ngày nhận được bản sao bản án. Anh Nguyễn Văn Q được quyền kháng cáo

bản án trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh;
  • - CụcTHADS tỉnh;
  • - UBND xã B, huyện V, tỉnh Thái Nguyên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Lê Thị Hồng Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2025/HNGĐ-ST ngày 07/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn

  • Số bản án: 16/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T VS Q
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger