|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 16/2025/HNGĐ-ST Ngày: 06 - 3 - 2025 V/v: “Ly hôn” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Quang Huy
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Mặc Vũ
Ông Từ Hồng Hải
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 729/2024/TLST- HNGĐ, ngày 25 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07/02/2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1983
Địa chỉ: Số B đường K B, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Chí Q, sinh năm 1980.
Địa chỉ: Số B đường K B, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
(Các đương sự có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị G trình bày: Giữa bà và ông Nguyễn Chí Q kết hôn năm 2003, tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Hà Tây, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện và có tổ chức cưới theo phong tục tập quán. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung tại thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến cuối năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra cãi vã, mâu thuẫn gia đình càng trầm trọng và không còn khả năng hàn gắn. Giữa bà và ông Q đã sống ly thân từ tháng 8 năm 2024 đến nay, không bên nào còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nay bà xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông Q, nên xin được ly hôn để trả tự do cho nhau.
Về con chung: Có 02 con chung Nguyễn Chí Anh K, sinh ngày 28/3/2004 và Nguyễn Ngọc Thùy L, sinh ngày 04/9/2011. Đối với cháu Nguyễn Chí Anh K, sinh ngày 28/3/2004 hiện đã thành niên và không bị hạn chế năng lực hành vi dân sự nên khi ly hôn bà không có yêu cầu gì. Đối với cháu Nguyễn Ngọc Thùy L, bà đồng ý giao cho ông Q trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi thành niên. Việc cấp dưỡng hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Các bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Chí Q trình bày: Ông và bà Nguyễn Thị G là vợ chồng có đăng ký kết hôn ngày 18/11/2003, tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Hà Tây. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung tại thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Cuộc sống chung hạnh phúc đến giữa năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, bà G không quan tâm chăm sóc gia đình. Cuộc sống chung có cãi vã nhưng không nhiều, hiện nay vợ chồng đang sống ly thân. Nay bà G yêu cầu ly hôn thì ông không đồng ý, vì lý do sợ ảnh hưởng đến sự phát triển của con cái và ông vẫn còn yêu thương vợ. Ông có nguyện vọng được đoàn tụ gia đình.
Về con chung: Có 02 con chung Nguyễn Chí Anh K, sinh ngày 28/3/2004; Nguyễn Ngọc Thùy L, sinh ngày 04/9/2011. Đối với cháu Nguyễn Chí Anh K, sinh ngày 28/3/2004 đã thành niên và không bị hạn chế năng lực hành vi dân sự nên ông cũng không có yêu cầu gì. Ông có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung cháu Nguyễn Ngọc Thùy L1 đến khi con đủ tuổi thành niên. Việc cấp dưỡng hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra trong hồ sơ vụ án còn có lời trình bày của cháu Nguyễn Ngọc Thùy L: Con tên Nguyễn Ngọc Thùy L, con của mẹ Nguyễn Thị G và bố Nguyễn Chí Q. Hiện nay con đang ở với bố, hằng ngày bố chăm sóc đưa đón con đi học. Nếu bố mẹ ly hôn thì con có nguyện vọng ở với bố.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.
Tại phiên tòa hôm nay,
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn. Bị đơn không đồng ý với yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn và có mong muốn xin được hàn gắn, đoàn tụ gia đình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa Hội đồng xét xử và các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa dân sự sơ thẩm. Đồng thời, nêu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Bà G và ông Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng thường xuyên cãi vã, không tìm được tiếng nói chung. Xét thấy mâu thuẫn giữa bà G và ông Q đã trầm trọng, giữa các bên không còn tình cảm gì với nhau, việc níu kéo cũng không còn hạnh phúc và mục đích hôn nhân không đạt được. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 8/2024 cho đến nay. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà G, cho bà G và ông Q được ly hôn là phù hợp.
Về con chung: Cháu K đã thành niên và phát triển bình thường nên không đặt ra để xem xét. Cháu L có nguyện vọng ở với bố, bà G cũng đồng ý giao cháu cho bố chăm sóc nuôi dưỡng. Do đó, cần giao cháu Nguyễn Ngọc Thùy L cho ông Q chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không đề nghị Tòa án giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp: Bà Nguyễn Thị G và ông Nguyễn Chí Q là vợ chồng hợp pháp, có đăng ký kết hôn theo quy định. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, bà G khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn Tuy nhiên, ông Q không đồng ý nên các bên phát sinh tranh chấp. Hiện nay ông Q đang cư trú tại địa chỉ B đường K B, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Do đó, cần xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “Ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị G và ông Nguyễn Chí Q đăng ký kết hôn ngày 18/11/2003, tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Hà Tây. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình thì đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ theo quy định.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Đến năm 2020 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo bà G trình bày là do ông Q thường xuyên nhậu nhẹt say xỉn, vợ chồng thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, ông Q nhiều lần cầm dao tự chém vào vào đầu và cổ của ông Q. Hiện tại vợ chồng cũng đã sống ly thân từ tháng 8/2024 cho đến nay. Nay bà G kiên quyết xin được ly hôn. Còn theo lời trình bày của ông Q cho rằng mâu thuẫn vợ chồng không có gì lớn, thỉnh thoảng vợ chồng có cãi nhau nhưng không đáng kể, nguyên nhân do bà G hay đi làm về trễ, có lần đi làm xa nhà cả tháng mới về, không có sự quan tâm, chăm sóc con cái. Nay ông không đồng ý ly hôn vì sợ ảnh hưởng đến tâm lý cũng như sự phát triển của con cái và cho rằng vẫn còn tình cảm với bà G.
Qua xem xét toàn bộ nội dung hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa bà G và ông Q đã kéo dài liên tục trong nhiều năm. Hiện tại, vợ chồng cũng đã sống ly thân và không bên nào còn sự quan tâm, chăm sóc, lo lắng giành cho nhau. Tại phiên tòa ông Q xin được hàn gắn tình cảm, đoàn tụ gia đình nhưng bà G không đồng ý, phía ông Q cũng không đưa ra được giải pháp nào khác để cải thiện mối quan hệ cũng như tình cảm giữa các bên. Mâu thuẫn giữa các bên đã ở mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được và việc tiếp tục níu kéo giữa các bên cũng không còn hạnh phúc. Do đó cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà G, cho bà G và ông Q được ly hôn là phù hợp.
[2.2] Về con chung: Giữa bà G và ông Q có 02 con chung là Nguyễn Chí Anh K, sinh ngày 28/3/2004 và Nguyễn Ngọc Thùy L, sinh ngày 04/9/2011.
Đối với cháu Nguyễn Chí Anh K đã trên 18 tuổi và phát triển bình thường, không bị hạn chế năng lực hành vi dân sự nên việc cháu ở với ai là do cháu tự quyết định. Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
Đối với cháu Nguyễn Ngọc Thùy L có nguyện vọng được ở với bố, bà G và ông Q cũng thống nhất sẽ giao cháu L cho ông Q trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Xét sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, phù hợp với nguyện vọng của cháu L nên cần giao cháu L cho ông Q nuôi dưỡng là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[2.3] Tài sản chung và nghĩa vụ trả nợ: Bà G ông Q đều xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[3] Về án phí: Bà G phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 266 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
-
Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị G. Cho bà Nguyễn Thị G và ông Nguyễn Chí Q được ly hôn.
-
Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Ngọc Thùy L, sinh ngày 04/9/2011 cho ông Nguyễn Chí Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành.
Việc cấp dưỡng nuôi con các bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
-
Về án phí: Bà Nguyễn Thị G phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001347 ngày 24/10/2024 của Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt. Bà G đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Vũ Quang Huy |
Bản án số 16/2025/HNGĐ-ST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn
- Số bản án: 16/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị Giang "Xin ly hôn" Ông Nguyễn Chí Quyết
