|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 16/2025/HC-ST Ngày: 12 – 02 - 2025 V/v khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy Tiên
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tố Linh.
Bà Thanh Thị Minh Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Trọng Kha - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 259/2024/TLST-HC ngày 18/12/2024 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai".
Theo quyếtđưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST-HC ngày 20 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1985
Nơi cư trú: Thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Bà Lê Thị Kim A, sinh năm 1984, nơi cư trú: 191 Đ, khu phố A, phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
- Người bị kiện: Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B.
Địa chỉ: Khu dân cư B, phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Công T - Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Trần Anh T1 - Giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đ1.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Địa chỉ: D T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo pháp luật: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P.
- Chi nhánh Văn phòng Đ1, tỉnh Bình Thuận.
Địa chỉ: C T, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Anh T1 - Giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đ1.
Tất cả các đương sự vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện bà Lê Thị Kim A trình bày:
Ngày 29/9/2021, ông Ôn Chí T2 lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Phạm Thị H do Văn phòng C, công chứng vào ngày 29/9/2021, số công chứng 7215 quyển số 08/2021TP/CC-SCC/HĐGD đối với thửa đất số 423, tờ bản đồ số 17, diện tích 124,2 m², mục đích sử dụng đất: đất ở tại nông thôn, địa chỉ thửa đất tại thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Ngày 11/11/2024, bà Phạm Thị H có nộp hồ sơ tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả UBND thành phố P để đăng ký biến động thì hồ sơ của bà H bị hoàn trả theo Thông báo số 1770/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 14/11/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ1 về việc hoàn trả hồ sơ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Phạm Thị H với lý do: “...Thửa đất của bà đăng ký nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 423; tờ bản đồ số 17; diện tích 124,2 m²; đất ở tại nông thôn; vị trí đất tại thôn X, xã P, thành phố P, theo Giấy chứng nhận số CK 959722 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 16/01/2018. Qua kiểm tra, phần diện tích đất ở tại nông thôn trên được UBND thành phố P cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo Quyết định số 5131/QĐ-UBND ngày 21/8/2017 nhưng không phù hợp quy hoạch (đất nông nghiệp) theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt...”
Chi nhánh Văn phòng Đ1 không thực hiện nhiệm vụ công vụ về việc đăng ký biến động chuyển quyền sử dụng đất của bà H là làm hạn chế quyền của người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà H.
Do đó, người khởi kiện bà Phạm Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết: Hủy Thông báo số 1770/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 14/11/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ1 về việc hoàn trả hồ sơ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Phạm Thị H. Buộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B; Chi nhánh Văn phòng Đ1 thực hiện nhiệm vụ công vụ được giao theo quy định pháp luật trong trường hợp đăng ký biến động do nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Phạm Thị H.
Tại Vănsố 421/CNVPĐKĐĐPT-TTLT ngày 16/01/2025 và quá trình giải quyết vụ án, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện và cũng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chi nhánh Văn phòng Đ1 trình bày:
Ngày 11/11/2024, Chi nhánh Văn phòng Đ1 có tiếp nhận hồ sơ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Phạm Thị H tại biên nhận số 1046/BPTNTKQ.
Bà Phạm Thị H nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Ôn Chí T2 đối với thửa đất số 423, tờ bản đồ số 17, diện tích 124,2 m² đất ở tại nông thôn, địa chỉ thửa đất tại thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 959722 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 16/01/2018 cho ông Nguyễn Trúc V, cập nhật biến động chuyển nhượng cho ông Ôn Chí T2 ngày 04/9/2019.
Thửa đất số 423, tờ bản đồ số 17 có nguồn gốc do ông Trương Công L thực hiện hợp thửa đất số 420, tờ 17 theo Giấy chứng nhận số CI 366998 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 09/10/2017 và thửa đất số 328, tờ bản đồ số 17 theo Giấy chứng nhận số CC 797072 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 03/02/2016 theo Mảnh chỉnh lý bản đồ địa chính số 509- 2017 thành thửa đất số 422 theo Mảnh chỉnh lý bản đồ địa chính số 510-2017; đồng thời tách thửa đất số 422 thành 03 (ba) thửa đất, trong đó có thửa đất số 423 được ông L chuyển nhượng cho ông Nguyễn Trúc V theo Mảnh chỉnh lý bản đồ địa chính số 511-2017 và Mảnh trích lục bản đồ địa chính số 511-2017.
Thửa đất số 420, tờ 17 theo Giấy chứng nhận số CI 366998 có nguồn gốc do UBND thành phố P ban hành Quyết định số 5131/QĐ-UBND ngày 21/8/2017 về việc cho phép ông Trương Công L được chuyển mục đích sử dụng đất.
Thửa đất số 328, tờ bản đồ số 17 theo Giấy chứng nhận số CC 797072 có nguồn gốc do UBND thành phố P ban hành Quyết định số 1217/QĐ-UBND ngày 18/12/2015 về việc cho phép ông Trương Văn Đ được chuyển mục đích sử dụng đất theo Giấy chứng nhận số BQ 387065 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 19/11/2015. Sau đó, ông Trương Văn Đ tách thành nhiều thửa đất, trong đó có thửa đất số 328 với diện tích 205,8 m² tặng cho ông Trương Công L và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận số CC 797072 ngày 03/02/2016.
Qua rà soát hồ sơ thì phần diện tích đất ở tại nông thôn được UBND thành phố P cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo Quyết định số 1217/QĐ- UBND ngày 18/12/2015 và Quyết định số 5131/QĐ-UBND ngày 21/8/2017 không phù hợp quy hoạch sử dụng đất theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 theo Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B.
Ngày 30/11/2023, UBND tỉnh B có Công văn số 4721/UBND-KT về việc ý kiến về nội dung báo cáo và đề nghị của Sở T tại Công văn Số 5523/STNMT-CCQLĐĐ ngày 20/11/2023: “...2. Giao trách nhiệm cho UBND các huyện, thị xã, thành phố tiếp tục tự rà soát và tự chịu trách nhiệm đối với các trường hợp đã cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để làm rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân tham mưu, giải quyết trước đây. Trên cơ sở kết quả rà soát, có báo cáo và kiến nghị đề xuất gửi Sở T”.
Căn cứ công văn nêu trên của UBND tỉnh B, hiện nay UBND thành phố P đang rà soát và kiến nghị đề xuất giải quyết đối với các trường hợp cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để làm rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân tham mưu, giải quyết trước đây.
Chi nhánh Văn phòng Đ1 hiện vẫn chưa nhận được ý kiến chỉ đạo giải quyết hồ sơ của cấp có thẩm quyền liên quan đến vướng mắc các trường hợp hồ sơ đã chuyển mục đíchđảm bảo theo quy định. Do đó, ngày 14/11/2024, Chi nhánh Văn phòng ban hành Thông báo số 1770/TB-CNVPĐKĐĐPT về việc hoàn trả hồ sơ đăng ký chuyển quyền sử dụng đất của bà Phạm Thị H. Sau khi các cấp có thẩm quyền có ý kiến chỉ đạo liên quan đến các nội dung vướng mắc của Chi nhánh V1 thì Chi nhánh Văn phòng sẽ thông báo lại cho bà Phạm Thị H được biết và phối hợp thực hiện giải quyết hồ sơ theo quy định.
Tại Vănsố 132/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 17/01/2025, người bị kiện Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B trình bày: Thống nhất theo Vănsố 421/CNVPĐKĐĐPT-TTLT ngày 16/01/2025 của Chi nhánh Văn phòng Đ1 và không cung cấp hồ sơ, tài liệu nào khác.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân thành phố P không có văn bản trình bày ý kiến và có đơn xin xét xử vắng mặt.
Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Tòa án tiến hành mở phiên họp đối thoại để các đương sự thống nhất với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án nhưng không thành. Do đó, Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án theo quy định.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận phát biểu quan điểm:
– Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử tiến hành tố tụng đúng quy định của Luật Tốtụng hành chính.
– Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện bà Phạm Thị H, hủy Thông báo số 1770/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 14/11/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ1 về việc hoàn trả hồ sơ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Phạm Thị H và buộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng Đ1 thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
[1] Về việc vắng mặt người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, người khởi kiện bà Phạm Thị H và người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện là bà Lê Thị Kim A, người bị kiện Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chi nhánh Văn phòng Đ1, Ủy ban nhân dân thành phố P được Tòa án triệu tập hợp lệ, các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa và có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 158 Luật Tố tụng hành chính.
[2] Về quyền khởi kiện:
Ngày 29/9/2021, ông Ôn Chí T2 lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Phạm Thị H đối với thửa đất số 423, tờ bản đồ số 17, diện tích 124,2 m², mục đích sử dụng đất: đất ở tại nông thôn theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 959722 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 16/01/2018 cho ông Nguyễn Trúc V, cập nhật biến động chuyển nhượng cho ông Ôn Chí T2 ngày 04/9/2019. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được công chứng tại Văn phòng C theo số công chứng 7215 quyển số 08/2021TP/CC-SCC/HĐGD ngày 29/9/2021.
Ngày 11/11/2024, bà Phạm Thị H có nộp hồ sơ tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả UBND thành phố P để đăng ký biến động chuyển quyền sử dụng đất của bà. Việc trả hồ sơ, từ chối đăng ký biến động sang tên bà Phạm Thị H đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà nên bà có quyền khởi kiện đối với Thông báo số 1770/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 14/11/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ1.
[3] Về đối tượng khởi kiện, thẩm quyền giải quyết:
Ngày 20/11/2024, bà Phạm Thị H làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết hủy Thông báo số 1770/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 14/11/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ1 về việc hoàn trả hồ sơ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Phạm Thị H và buộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng Đ1 thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật đối với thửa đất số 423, tờ bản đồ số 17, diện tích 124,2 m² tại thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ Điều 30, khoản 3 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính, đây là “Khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý Nhànước trong lĩnh vực đất đai” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
[4] Về thời hiệu khởi kiện:
Chi nhánh Văn phòng Đ1 ban hành Thông báo số 1770/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 14/11/2024. Đến ngày 20/11/2024, bà Phạm Thị H nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận là còn trong thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.
[5] Về nội dung Quyết định hành chính bị khởi kiện, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[5.1] Khoản 1 Điều 45 Luật đất đai năm 2024 quy định “1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp thừa kế quyền sử dụng đất, chuyển đổi đất nông nghiệp khi dồn điền, đổi thửa, tặng cho quyền sử dụng đất cho Nhà nước, cộng đồng dân cư và trường hợp quy định tại khoản 7 Điều 124 và điểm a khoản 4 Điều 127 của Luật này;
b) Đất không có tranh chấp hoặc tranh chấp đã được giải quyết bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bản án, quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phán quyết của Trọng tài đã có hiệu lực pháp luật;
c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên, áp dụng biện pháp khác để bảo đảm thi hành án theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự;
d) Trong thời hạn sử dụng đất;
đ) Quyền sử dụng đất không bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật.”
[5.2] Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Ôn Chí T2 và bà Phạm Thị H phù hợp với quy định của pháp luật, thửa đất nhận chuyển nhượng có đủ tất cả các điều kiện nêu trên và thuộc trường hợp bắt buộc phải đăng ký biến động đất đai theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 133 Luật Đất đai năm 2024. Việc đăng ký biến động sang tên người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất chỉ thay đổi tên người sử dụng đất, không làm thay đổi các thông tin khác đối với thửa đất.
[5.3] Chi nhánh Văn phòng dăng ký đất đai Phan T3 cho rằng Quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của Ủy ban nhân dân thành phố P không phù hợp quy hoạch sử dụng đất, không phù hợp quy định của pháp luật nên không giải quyết hồ sơ đăng ký biến động của bà Phạm Thị H. Hội đồng xét xử xét thấy:
Đến thời điểm hiện nay thì quyếtcho chuyển mục đích số 5131/QĐ-UBND ngày 21/8/2017 và Quyết định số 1217/QĐ-UBND ngày 18/12/2015 của Ủy ban nhân dân thành phố P vẫn còn hiệu lực pháp luật chưa bị cơ quan nào hủy bỏ hoặc xác định việc cho chuyển mục đích quyền sử dụng đất trên là không đúng quy định của pháp luật và ban hành văn bản hủy bỏ hoặc thu hồi về việc cho chuyển mục đích trái pháp luật. Các thông tin về diện tích và mục đích sử dụng đất thể hiện trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoàn toàn phù hợp với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc trả lại hồ sơ đăng ký biến động của Chi nhánh Văn phòng Đ1 tại Thông báo số 1770/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 14/11/2024 là không có căn cứ, xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của người khởi kiện nên người khởi kiện yêu cầu hủy bỏ thông báo nêu trên là có cơ sở. Do đó, Hội đồng xét xử xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị H như ý kiến của ĐạiViện kiểm sát.
[6] Về án phí: Do yêu cầu của người khởi kiện được chấp nhận nên người bị kiện phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; bà Phạm Thị H được hoàn trả lại tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Điều 30; khoản 3 Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116; khoản 1 Điều 158; điểm b khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính;
- Khoản 1 Điều 45, khoản 1 Điều 131, Điểm a khoản 1 Điều 133 Luật Đất đai;
- Khoản 2 Điều 32 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị H.
– Hủy Thông báo số 1770/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 14/11/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ1 về việc hoàn trả hồ sơ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Phạm Thị H.
– Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng Đ1 phải thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong việc giải quyết hồ sơ đăng ký chuyển quyền sử dụng đất của bà Phạm Thị H theo quy định của pháp luật.
2. Về án phí hành chính sơ thẩm:
Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hành chính sơ thẩm.
Bà Phạm Thị H không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm. Trả lại cho bà Phạm Thị H 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biênthu số 0000508 ngày 16/12/2024 của Cục Thihành án dân sự tỉnh B.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.
|
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Thuận; - Cục THADS tỉnh Bình Thuận; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thủy Tiên |
Bản án số 16/2025/HC-ST ngày 12/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Số bản án: 16/2025/HC-ST
- Quan hệ pháp luật: khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/02/2025
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Hiền kiện QĐHC
