Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2025/HC-ST

Ngày: 05/6/2025

“Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nam

Các hội thẩm nhân dân: 1- Ông Trần Minh Phương

2- Ông Nguyễn Văn Kỹ

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hương Trà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2025, điểm cầu trung tâm tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu thành phần tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh mở phiên toà xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hành chính thụ lý số: 10/2025/TLST-HC ngày 23 tháng 4 năm 2025 về việc “Yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐXX- HCST, ngày 19 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

* Người khởi kiện:

Chị Trần Thị T, sinh năm 1975; địa chỉ: Thôn L, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Ninh (Vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của chị T: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn M, xã C, huyện G, tỉnh Bắc Ninh (Có mặt).

* Người bị kiện:

  1. Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh B; địa chỉ: Số H, đường L, phường S, thành phố B
  2. Người đại diện theo pháp luật: Ông Hồ Nguyên H1 – Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh B (Vắng mặt).

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Mạnh L – Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh B (Vắng mặt).

  3. Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B; địa chỉ: Số A đường N, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh
  4. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Duy H2 – Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B (Vắng mặt).

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Huy S – Phó Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B (Vắng mặt).

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. UBND huyện G, tỉnh Bắc Ninh; địa chỉ: Đường H, thị trấn G, tỉnh Bắc Ninh
  2. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Công K – Chủ tịch UBND huyện G, tỉnh Bắc Ninh (Vắng mặt).

  3. UBND xã C, huyện G, tỉnh Bắc Ninh; địa chỉ: Xã C, huyện G, tỉnh Bắc Ninh
  4. Người đại diện theo pháp luật: Ông Lại Đình T1 – Chủ tịch UBND xã C, huyện G, tỉnh Bắc Ninh (Vắng mặt).

    Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Thị K1 – Phó Chủ tịch UBND xã C, huyện G, tỉnh Bắc Ninh (Có mặt).

  5. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện G; địa chỉ: Thị trấn G, huyện G, tỉnh Bắc Ninh.
  6. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Vũ K2 – Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện G (Vắng mặt).

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vương Văn T2 – Phó Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện G (Vắng mặt).

  7. Bà Vũ Thị G, sinh năm 1944; địa chỉ: Thôn M, xã C, huyện G, tỉnh Bắc Ninh (Vắng mặt).
  8. Chị Trần Thị T3, sinh năm 1973; địa chỉ: M, phường M, quận N, thành phố Hà Nội (Vắng mặt).
  9. Anh Nguyễn Xuân A, sinh năm 1979; địa chỉ: Xã Y, huyện G, thành phố Hà Nội (Vắng mặt).
  10. Chị Nguyễn Mai H3, sinh năm 1981; địa chỉ: Xã Y, huyện G, thành phố Hà Nội (Vắng mặt).
  11. Chị Trần Thị C, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh (Vắng mặt).
  12. Người đại diện theo ủy quyền của bà G, chị T3, anh A, chị H3, chị C: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn M, xã C, huyện G, tỉnh Bắc Ninh (Có mặt).

  13. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn M, xã C, huyện G, tỉnh Bắc Ninh (Có mặt).
  14. Cháu Trần Văn H4, sinh năm 2010 (Vắng mặt).
  15. Cháu Trần Hải H5, sinh năm 2013 (Vắng mặt).
  16. Người đại diện theo pháp luật của cháu H4, cháu H5: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1983 (Có mặt).

    Cùng địa chỉ: Thôn M, xã C, huyện G, tỉnh Bắc Ninh.

* Người tham gia tố tụng khác:

  1. Ông Nguyễn Hữu B - Cán bộ phụ trách tin học, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
  2. Ông Nguyễn Chí Q - Cán bộ phụ trách tin học Tòa án nhân dân huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng phía người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:

Bố chồng chị H là ông Trần Văn V sinh năm 1944 (đã chết năm 2008) và bà Vũ Thị G sinh năm 1944, bố mẹ chị H sinh được 5 người con gồm: Trần Thị T3, sinh năm 1973; Trần Thị T, sinh năm 1975; Trần Thị C, sinh năm 1977; Trần Xuân A1, sinh năm 1979 và chồng chị là Trần Văn H6, sinh năm 1982 ( đã chết năm 2023 có vợ là H và các con là Trần Văn H4 sinh năm 2010 và Trần Hải H5 sinh năm 2013).

Ông V, bà Giá có 01 thửa đất ở tại thôn M - xã C - huyện G do các cụ của chồng chị H để lại cho ông V khoảng trước năm 1980 và gia đình ông V, bà Giá vẫn sinh sống ổn định trên thửa đất đó cho đến nay. Năm 2000 thực hiện luật đất đai của nhà nước, các hộ gia đình trên địa bàn xã tự kê khai đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng do sơ suất gia đình chồng chị H đã không thực hiện việc kê khai cấp giấy chứng nhận đối với thửa đất trên.

Năm 2003 trên hồ sơ kỹ thuật thửa đất tại UBND xã mang tên chủ sử dụng Trần Văn V, đến năm 2008 ông Trần Văn V chết. Đến năm 2009 mẹ chồng chị H đã tự ý đi kê khai thửa đất trên và được UBND huyện cấp GCNQSDĐ mang tên bà Vũ Thị G. Đến năm 2022 bà G đã thực hiện thủ tục tách thửa và tặng cho vợ chồng anh Trần Xuân A1 và chị Nguyễn Mai H3 thửa đất số 870, tờ bản đồ số 35 diện tích là 401,6m² và đã được Văn phòng Đăng ký đất đai, tỉnh Bắc Ninh cấp GCNQSDĐ số DE 113370, ngày 10/6/2022 và tặng cho vợ chồng chị là anh Trần Văn H6 và Nguyễn Thị H thửa đất số 869, tờ bản đồ số 35 diện tích là 666,4m² và đã được Văn phòng Đăng ký đất đai, tỉnh Bắc Ninh cấp GCNQSDĐ số DE 113369, ngày 10/6/2022. Đến năm 2023 chồng chị H là Trần Văn H6 chết không để lại di chúc, đến năm 2025 thì bà G đã làm thủ tục khước từ tài sản thừa kế của chồng chị là Trần Văn H6 để lại là thửa đất số 869, tờ bản đồ số 35 diện tích là 666,4m² và đến ngày 03/4/2025 chị H đã được Chi nhánh VPĐKĐ huyện G cấp GCNQSDĐ số AA01120118 đối với thửa đất số 869, tờ bản đồ số 35 diện tích là 666,4m² mang tên là Nguyễn Thị H là đại diện hàng thừa kế của chồng chị H đứng tên.

Đến tháng 12/2024 chị T hỏi bà G thì mới phát hiện ra việc bà G tự ý làm thủ tục cấp GCNQSDĐ mang tên bà G sau đó lại tự ý làm thủ tục tách thửa để cho anh Trần Xuân A1, chị Nguyễn Mai H3 và anh Trần Văn H6 và chị Nguyễn Thị H7, việc làm trên của mẹ chồng chị H7 đã không hỏi ý kiến của các anh chị em chồng là không phù hợp với quy định của pháp luật làm ảnh hưởng đến quyền lợi của của các anh chị em trong gia đình.

Nay chị Trần Thị T là chị gái của chồng chị H7 làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh giải quyết như sau:

Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AA01120118, đối với thửa đất 869, tờ bản đồ số 35 diện tích là 666,4m² do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện G, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 03/04/2025 mang tên bà Nguyễn Thị H.

Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DE 113370, đối với thửa đất số 870, tờ bản đồ số 35 diện tích là 401,6m2 do Sở T, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 10/6/2022 mang tên ông Trần Xuân A1 và bà Nguyễn Mai H3.

Bản thân chị H là con dâu trong gia đình để giữ tình đoàn kết giữa các chị em trong gia đình cũng như các con của anh chị em trong gia đình chị H là đại diện theo ủy quyền của bà G, chị T, chị T3, anh A1, chị H3 và chị C cũng đồng ý với quan điểm của chị T đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh:

Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AA01120118, đối với thửa đất số 869, tờ bản đồ số 35 diện tích là 666,4m² do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện G, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 03/04/2025 mang tên bà Nguyễn Thị H.

Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DE 113370, đối với thửa đất số 870, tờ bản đồ số 35 diện tích là 401,6m² do Sở T, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 10/6/2022 mang tên ông Trần Xuân A1 và bà Nguyễn Mai H3.

* Ý kiến của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh B:

- Giấy chứng nhận số DE113370, số vào sổ cấp GCN CS16670 thuộc thửa đất số 870, tờ bản đồ số 35, diện tích 401,6m² mang tên ông Trần Xuân A1 và bà Nguyễn Mai H3 và Giấy chứng nhận số DE113369, số vào sổ cấp GCN CS16669 thuộc thửa đất số 869, tờ bản đồ số 35, diện tích 666,4m² mang tên ông Trần Văn H6 và bà Nguyễn Thị H, tại Xã C, huyện G, tỉnh Bắc Ninh được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 10/6/2022 là thực hiện theo đơn đề nghị tách thửa đất, hợp thửa đất của bà Vũ Thị G ngày 23/12/2021 theo Giấy chứng nhận số CN835711, số vào sổ cấp GCN CH08472 do UBND huyện G cấp ngày 07/12/2018, thuộc thửa đất số 103, tờ bản đồ số 35, diện tích 1.068,0m² (trong đó: 300.0m² đất ở tại nông thôn và 768,0m² đất trồng cây lâu năm) thành 02 thửa đất gồm thửa đất số 870, tờ bản đồ số 35, diện tích 401,6m² cấp cho ông Trần Xuân A1 và bà Nguyễn Mai H3 có số DE113370, số vào sổ cấp GCN CS16670 và thửa đất số 869, tờ bản đồ số 35, diện tích 666,4m² cấp cho ông Trần Văn H6 và bà Nguyễn Thị H có số DE113369, số vào sổ cấp GCN CS16669 được Sở T cấp ngày 10/6/2022 theo Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 40, quyển số 01/2022- SCT/HĐ,GD và hợp đồng tặng cho số 41, quyền số 01/2022- SCT/HĐ,GD được Chủ tịch UBND xã C chứng thực ngày 09/5/2022; là thực hiện việc đăng ký biến động đất đai theo quy định.

Giấy chứng nhận số AA01120118, số vào sổ cấp GCN CN50, thuộc thửa đất số 869, tờ bản đồ số 35, diện tích 666,4m2 mang tên bà Nguyễn Thị H, tại Xã C, huyện G, tỉnh Bắc Ninh được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện G cấp ngày 03/4/2025 thực hiện theo đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất do nhận thừa kế quyền sử dụng đất; là thực hiện việc đăng ký biến động đất đai theo quy định.

Trong thời gian giải quyết hồ sơ, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện G không nhận được bất kỳ thông tin gì về việc tranh chấp, khiếu nại, đơn thư... đối với hai thửa đất nêu trên. Quá trình tiếp nhận và giải quyết hồ sơ của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện G đều được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật hiện hành.

* Ý kiến của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B:

Người khởi kiện yêu cầu hủy 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở T (nay là: Sở N), cấp ngày 10/6/2022 cho ông Trần Xuân A1 và bà Nguyễn Mai H3 đối với thửa 870, tờ bản đồ số 35, diện tích 401,6m² và Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện G, cấp ngày 03/4/2025 cho bà Nguyễn Thị H đối với thửa đất số 869, tờ bản đồ số 35, diện tích 666,4m², địa chỉ: xã C, huyện G, tỉnh Bắc Ninh là không có cơ sở và chỉ được thực hiện khi có bản án hoặc Quyết định của Tòa án nhân dân.

* Ý kiến của UBND huyện G:

Căn cứ Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 quy định về điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất.

Căn cứ Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về trình tự thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của vợ hoặc chồng thành của chung vợ và chồng.

Về thành phần hồ sơ thực hiện theo quy định tại Điều 9 Thông tự số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T7 về hồ sơ địa chính.

Căn cứ Điều 45 Luật Đất đai 2024 quy định về điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất.

Căn cứ Điều 37 Nghị định 101/2024/NĐ-CP ngày 29/7/2024 của Chính phủ quy định về trình tự, thủ tục đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất.

Các quy định khác có liên quan.

Căn cứ các quy định nêu trên thì việc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B (nay là: Sở Nông nghiệp và Môi trường) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với hai thửa đất nêu trên là phù hợp quy định của pháp luật hiện hành.

* Ý kiến của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện G:

Người khởi kiện yêu cầu hủy 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở T (nay là: Sở N), cấp ngày 10/6/2022 cho ông Trần Xuân A1 và bà Nguyễn Mai H3 đối với thửa 870, tờ bản đồ số 35, diện tích 401,6m² và Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện G, cấp ngày 03/4/2025 cho bà Nguyễn Thị H đối với thửa đất số 869, tờ bản đồ số 35, diện tích 666,4m², địa chỉ: xã C, huyện G, tỉnh Bắc Ninh là không có cơ sở và chỉ được thực hiện khi có bản án hoặc Quyết định của Tòa án nhân dân.

* Ý kiến của UBND xã C:

Qua rà soát sơ bộ hồ sơ địa chính tại địa phương, UBND xã C xác nhận:

  1. Thửa đất số 869 và 870, tờ bản đồ số 35, địa chỉ tại thôn M, xã C là thửa đất có nguồn gốc cha ông để lại trước năm 1980 do hộ ông Trần Văn V sử dụng. Năm 2009 bà Vũ Thị G ( là vợ ) đã đứng tên kê khai và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
  2. Đến năm 2022 bà Vũ Thị G làm thủ tục tách thửa tặng cho quyền sử dụng đất cho các con là ông Trần Xuân A1 và Nguyễn Mai H3 thửa đất số 870. tờ bản đồ số 35, diện tích 401.6m² do Sở T cấp ngày 10/6/2022 mang tên Trần Xuân A1 và Nguyễn Mai H3 và Trần Văn H6 Nguyễn Thị H thửa đất số 869, tờ bản đồ số 35 diện tích là 666,4m² và đã được Sở T, tỉnh Bắc Ninh cấp GCNQSDĐ số DE 113369, ngày 10/6/2022, đến năm 2025 thì gia đình bà G và chị H đã làm thủ tục thừa kế của anh Trần Văn H6 để lại là thửa đất số 869, tờ bản đồ số 35 diện tích là 666,4m² và đến ngày 03/4/2025 Chi nhánh VPĐKĐ huyện G đã cấp GCNQSDĐ số AA01120118 đối với thửa đất trên mang tên Nguyễn Thị H là đại diện hàng thừa kế của anh H6 đứng tên và việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được thực hiện theo đúng trình tự hồ sơ do công dân cung cấp và được thẩm định tại cấp huyện, cấp tỉnh.
  3. UBND xã khi giải quyết không nhận được đơn tranh chấp hoặc ý kiến phản đối nào về quyền sử dụng đất liên quan đến thửa đất nói trên trước thời điểm cấp GCNQSDĐ, tuy nhiên nay con gái bà G là chị T phát hiện thấy bà G tự ý kê khai để được cấp GCNQSDĐ, sau đó lại tách chia cho hai người con trai mà không có ý kiến gì của chị đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của chị nên chị T đã khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AA01120118, đối với thửa đất số 869, tờ bản đồ số 35 diện tích là 666,4m² do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện G, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 03/04/2025 mang tên bà Nguyễn Thị H và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DE 113370, đối với thửa đất số 870, tờ bản đồ số 35 diện tích là 401,6m² do Sở T, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 10/6/2022 mang tên ông Trần Xuân A1 và bà Nguyễn Mai H3.

Kiến nghị, đề xuất:

UBND xã C đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh căn cứ hồ sơ, tài liệu và diễn biến cụ thể của vụ việc để xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật để đảm bảo quyền lợi của các bên đương sự cũng như giữ được tình cảm gia đình giữa các con của bà G. UBND xã cam kết phối hợp cung cấp thêm thông tin nếu Tòa án có yêu cầu bổ sung.

* Tại phiên toà sơ thẩm:

- Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh: Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AA01120118, đối với thửa đất số 869, tờ bản đồ số 35 diện tích là 666,4m² do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện G, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 03/04/2025 mang tên bà Nguyễn Thị H.

Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DE 113370, đối với thửa đất số 870, tờ bản đồ số 35 diện tích là 401,6m2 do Sở T, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 10/6/2022 mang tên ông Trần Xuân A1 và bà Nguyễn Mai H3.

UBND CIBND sử đề nghị Tánhâdâtỉnh BắNinh cách triệu hai ễ biếcthể việc đông khấnhậy cầkhởi kiện của người khởi kiện. Sở Nông nghiệp và Môi T4, Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B, Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện G và UBND huyện G vắng mặt tại phiên Tòa: Thẩm phán đã công bố những văn bản ý kiến của những người vắng mặt theo quy định của pháp luật.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và của các đương sự tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng quy định của pháp luật. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng hành chính theo quy định.

+ Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; Luật đất đai năm 2013; Luật đất đai năm 2024: chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T.

Tòa án đã tiến hành cho các bên đương sự đối thoại, nhưng người khởi kiện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người bị kiện vẫn giữ nguyên quyết định hành chính bị khởi kiện. Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên. Sau khi thảo luận và nghị án; Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa, Người bị kiện là Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Bắc Ninh, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là UBND huyện G, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện G có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử xử vắng mặt đương sự và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan theo quy định tại khoản 1 Điều 158 Luật tố tụng hành chính.

[2] Về thời hiệu khởi kiện: Tháng 12/2024 chị T phát hiện ra bà G đã tự ý làm thủ tục cấp GCNQSDĐ, sau đó đã làm thủ tục tách thửa cho anh Trần Xuân A1, chị Nguyễn Mai H3 thửa đất số 870 tờ bản đồ số 35, diện tích 401.6m² đã được Sở Tài nguyên và môi trường cấp GCNQSDĐ ngày 10/6/2022 và anh Trần Văn H6, chị Nguyễn Thị H đối với thửa đất số 869, tờ bản đồ số 35 diện tích là 666,4m² đã được Chi nhánh VPĐKĐĐ huyện G cấp GCNQSDĐ ngày 03/04/2025 mang tên là Nguyễn Thị H. Ngày 11/4/2025, bà T nộp đơn khởi kiện. Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh thụ lý giải quyết vụ án “Yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” là đúng đối tượng khởi kiện, đúng thẩm quyền cũng như thời hiệu khởi kiện theo quy định tại các Điều 30, 31, 116 Luật tố tụng Hành chính.

[3] Xét tính hợp pháp của GCNQSDĐ số AA01120118, đối với thửa đất số 869, tờ bản đồ số 35 diện tích là 666,4m² do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện G, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 03/04/2025 mang tên bà Nguyễn Thị H và GCNQSDĐ số DE113370 số vào sổ cấp GCN: CS16670 đối với thửa đất số 870, tờ bản đồ số 35, diện tích 401,6m² do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 10/6/2022 mang tên ông Trần Xuân A1 và bà Nguyễn Mai H3.

[3.1] Xét về trình tự, thủ tục và thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN835711 đối với thửa đất số 103, tờ bản đồ số 35 diện tích 1.068m² do UBND huyện G cấp ngày 07/12/2018 mang tên bà Vũ Thị G.

* Về thẩm quyền ban hành: UBND huyện G căn cứ vào Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn nên vậy UBND huyện G là cơ quan có thẩm quyền ban hành cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

* Về trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Năm 2008 UBND xã C nhận được đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở của bà Vũ Thị G đối với thửa đất số 103, tờ bản đồ số 35 diện tích 1.068m² tại thôn M, xã C, huyện G, tỉnh Bắc Ninh đã được UBND huyện G cấp GCNQSDĐ.

Đến ngày 06/11/2009 đã được UBND huyện G cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 103, tờ bản đồ số 35 diện tích 1.068m² tại thôn M, xã C, huyện G, tỉnh Bắc Ninh mang tên Vũ Bá G1.

Đến năm 2018 gia đình bà G1 phát hiện có sự sai sót về tên đệm của bà G1 nên đã thông báo cho UBND huyện G và UBND huyện G đã cấp lại GCNQSDĐ số CN835711 đối với thửa đất số 103, tờ bản đồ số 35 diện tích 1.068m² tại thôn M, xã C, huyện G, tỉnh Bắc Ninh mang tên bà Vũ Thị G vào ngày 07/12/2018.

[3.2] Xét về trình tự, thủ tục và thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AA01120118, đối với thửa đất số 869, tờ bản đồ số 35 diện tích là 666,4m² do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện G, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 03/04/2025 mang tên bà Nguyễn Thị H và GCNQSDĐ số DE113370 số vào sổ cấp GCN: CS16670 đối với thửa đất số 870, tờ bản đồ số 35, diện tích 401,6m² do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 10/6/2022 mang tên ông Trần Xuân A1 và bà Nguyễn Mai H3 có nguồn gốc do nhận tặng cho từ bà Vũ Thị G.

* Về thẩm quyền ban hành: Sở T và Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện G đã căn cứ vào Luật đất đai 2013 và các văn bản hướng dẫn nên Sở T và Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện G là cơ quan có thẩm quyền ban hành cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên.

* Về trình tự thủ tục và thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Đến ngày 23/12/2021 bà G có đơn xin tách thửa đối với thửa đất số 103, tờ bản đồ số 35 diện tích 1.068m² thành hai thửa là thửa số 869, tờ bản đồ số 35 diện tích là 666,4m² và thửa số 870, tờ bản đồ số 35, diện tích 401,6m². Đến ngày 09/5/2022 bà Vũ Thị G đã làm hợp đồng tặng cho anh Trần Văn H6 và Nguyễn Thị H diện tích 666,4m² và anh Trần Xuân A1, Nguyễn Mai H3 401,6m² theo hợp đồng tặng cho đã được UBND xã C chứng thực. Ngày 02/6/2022 Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện G chuyển thông tin địa sang chi cục thuế. Ngày 06/6/2022 Chi cục thuế huyện G có thông báo về nộp tiền lệ phí trước bạ. Ngày 10/6/2022 Sở T đã cấp GCNQSDĐ đối với thửa số 869, tờ bản đồ số 35 diện tích 666,4m² mang tên ông Trần Văn H6 và bà Nguyễn Thị H và thửa số 870, tờ bản đồ số 35, diện tích 401,6m² mang tên ông Trần Xuân A1 và bà Nguyễn Mai H3. Ngày 19/02/2023 anh Trần Văn H6 chết không để lại di chúc, đến ngày 13 tháng 3 năm 2025 sau khi bà G làm thủ thục khước từ tài sản do anh H6 để lại là thửa số 869, tờ bản đồ số 35 diện tích 666,4m² mang tên ông Trần Văn H6 và bà Nguyễn Thị H thì đến ngày 03/4/2025 Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện G đã cấp GCNQSDĐ đối với thửa số 869, tờ bản đồ số 35 diện tích 666,4m² mang tên bà Nguyễn Thị H là đại diện cho những người thừa kế.

Xét về nguồn gốc của thửa đất số 103, tờ bản đồ số 35 diện tích 1.068m² tại thôn M, xã C, huyện G, tỉnh Bắc Ninh là của ông Trần Văn V sinh năm 1944 (đã chết ngày 05/01/2008) và bà Vũ Thị G sinh năm 1944. Trước khi ông V chết thửa đất trên chưa được cấp GCNQSDĐ. Đến tháng 8/2008 sau khi ông V chết thì bà Vũ Thị G đã tự ý làm đơn xin cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất trên và đã được UBND huyện G cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất trên mang tên bà Vũ Thị G mà không hỏi ý kiến của chị T, chị T3 và chị C, sau đó bà G đã làm thủ tục tách thửa và tặng cho vợ chông anh H6, chị H và anh A1, chị H3.

Như vậy, việc bà G đã tự ý làm đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất năm 2008 là tài sản chung của vợ chồng bà G và ông V mà không có ý kiến của các con ông V là không đúng với quy định của pháp luật làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các con ông V là chị T, chị T3 và chị C. Mặt khác trong bản tự khai chị H là đại diện theo ủy quyền của bà G, chị T, chị T3, chị C, anh A1 và chị H3 cũng đồng ý theo đơn khởi kiện của chị T đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh hủy GCNQSDĐ số AA01120118, đối với thửa đất số 869, tờ bản đồ số 35 diện tích là 666,4m² do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện G, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 03/04/2025 mang tên bà Nguyễn Thị H và hủy GCNQSDĐ số DE113370 đối với thửa đất số 870, tờ bản đồ số 35, diện tích 401,6m² do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 10/6/2022 mang tên ông Trần Xuân A1 và bà Nguyễn Mai H3.

Như vậy căn cứ và những nhận định và yêu cầu nêu trên của đương sự Hội đồng xét xử xét thấy toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị T về việc hủy GCNQSDĐ số AA01120118, đối với thửa đất số 869, tờ bản đồ số 35 diện tích là 666,4m² do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện G, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 03/04/2025 mang tên bà Nguyễn Thị H và hủy GCNQSDĐ số DE113370 đối với thửa đất số 870, tờ bản đồ số 35, diện tích 401,6m² do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 10/6/2022 mang tên ông Trần Xuân A1 và bà Nguyễn Mai H3 là có căn cứ nên cần chấp nhận. Do vậy cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị T.

[4] Đối với yêu cầu xem xét thẩm định tại chỗ xác định:

Thửa đất số 869, tờ bản đồ số 35, diện tích 666,4m² có tứ cận như sau: Phía Bắc giáp đường làng, phía Nam giáp đất nhà ông Vũ Văn T5, phía Tây giáp nhà ông Trần Văn D, phía Đông giáp nhà ông Trần Xuân A1 và Vũ Bá T6. Các tài sản trên đất: 01 nhà cấp bốn 120m², 01 bếp ăn (cả vệ sinh), 01 khu sân lợp mái tôn, 01 khu sân không lợp mái.

Thửa đất số 870, tờ bản đồ số 35, diện tích 401,6m² có tứ cận như sau: Phía Bắc giáp đường làng, phía Nam giáp đất nhà ông Vũ Bá T6, phía Tây giáp đất nhà bà Nguyễn Thị H, phía Đông giáp đất nhà bà Vũ Thị X. Các tài sản trên đất: 01 kho lợp mái tôn, vườn trồng cây ăn quả.

[5] Về án phí và chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị T được chấp nhận nên Sở T và Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện G phải chịu án phí Hành chính sơ thẩm theo quy định của pháp luật, tuy nhiên tại phiên tòa chị H là đại diện theo ủy quyền của chị T xin tự nguyện chịu toàn bộ tiền án phí hành chính sơ thẩm nên cần chấp nhận sự tự nguyện của chị H.

- Về chi phí tố tụng: Tại phiên toà, chị H là đại diện theo ủy quyền của chị T tự nguyện chịu tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết nên Hội đồng xét xử không đưa ra xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 30; Điều 32; Điều 115; Điều 116; điểm b khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính; Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương; Luật Đất đai 2013; Luật đất đai 2024; Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T7; Nghị định 101/2024/ NĐ-CP ngày 29/7/2024 của Chính phủ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị T:
    • - Huỷ GCNQSDĐ số AA01120118, đối với thửa đất số 869, tờ bản đồ số 35 diện tích là 666,4m² do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện G, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 03/04/2025 mang tên bà Nguyễn Thị H.
    • - Huỷ GCNQSDĐ số DE113370 đối với thửa đất số 870, tờ bản đồ số 35, diện tích 401,6m² do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 10/6/2022 mang tên ông Trần Xuân A1 và bà Nguyễn Mai H3.
  2. Về án phí: Chị Trần Thị T phải chịu 600.000đ án phí hành chính sơ thẩm. Xác nhận chị T đã nộp 300.000đ tiền tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000398 ngày 17/4/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh, số tiền còn lại chị T phải nộp là 300.000đ.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Ninh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP- THC.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Nguyễn Văn Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2025/HC-ST ngày 05/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 16/2025/HC-ST
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Tr
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger