|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ – TP. HÀ NỘI Bản án số: 16/2025/DSST Ngày 26 tháng 02 năm 2025 “V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng“ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Trọng Đức.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Hoan và ông Nguyễn Xuân Thuật.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Phương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Hoàng Phương, Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 02 năm 2025. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội xét xử công khai, sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 109/2024/TLST-DS ngày 30 tháng 10 năm 2024. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2025/QĐXXST- DS ngày 22/01/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/QĐHPT, ngày 10/02/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S;
Địa chỉ: Số B N, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D, chức vụ: Tổng giám đốc.
Pháp nhân đại diện theo ủy quyền: Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng S.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Ngọc T, chức vụ: Tổng giám đốc.
Người nhận ủy quyền lại: Ông Nguyễn Thanh H, nhân viên (Theo văn bản ủy quyền số 2079/2024/UQ-TGĐ ngày 03/4/2024).
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm: 1983;
Địa chỉ: Thôn Đ, xã M, huyện B, Hà Nội
1
( Ông H có đơn xin vắng mặt; anh H1 vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người nhận ủy quyền cho nguyên đơn trình bày: Ngày 05/04/2018 anh H1 và đại diện Ngân hàng TMCP S, chi nhánh Đ đã ký kết hợp đồng thẻ tín dụng( bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S). Căn cứ vào thu nhập của anh H1, ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng Visa Credit gold với hạn mức sử dụng là 20.000.000đ với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, anh H1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 19.990.000đ và chưa từng thanh toán cho ngân hàng 01 lần nào. Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nợ nhưng anh H1 không có thiện chí trả nợ. Do anh H1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng) nên ngày 01/09/2018 ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn ( Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng). Lãi quá hạn: 3,225%/tháng = 2,15%/ tháng x 150%. Dư nợ chuyển quá hạn 23.901.168 đồng (bao gồm: giao dịch: 19.990.000đ; lãi trong hạn: 2.208.000đ; phí trễ hạn: 1.005.033đ; phí vượt hạn mức: 269.135đ, phí khác: 429.000đ). Kể từ ngày chuyển nợ quá hạn anh H1 đã thanh toán cho ngân hàng số tiền 22.000.000đ vào ngày 10/06/2024 (được trừ vào dư nợ chuyển quá hạn trước là 23.901.168đ). Tính đến ngày 26/02/2025 anh H1 còn nợ các khoản sau: Nợ gốc: 1.901.168 đồng; lãi quá hạn: 54.724.174 đồng. Tổng cộng: 56.625.342 đồng
Nay ngân hàng đề nghị Tòa án giải quyết buộc anh Nguyễn Văn H1 phải trả ngay cho ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 26/02/2025 là 56.625.342 đồng (Năm mươi sáu triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn ba trăm bốn mươi hai đồng).
Anh H1 có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh sau ngày 26/02/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Buộc anh Nguyễn Văn H1 phải chịu trách nhiệm thanh toán toàn bộ án phí, phí thi hành án, chi phí phát sinh liên quan.
* Tòa án đã tiến hành tống đạt và niêm yết hợp lệ Thông báo thụ lý, Thông báo về phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Nguyễn Văn H1 vắng mặt. Phía người nhận ủy quyền lại của Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng S
2
đại diện hợp pháp của Ngân hàng TMCP S có đơn xin vắng mặt và đề nghị không tiến hành hòa giải, Ngân hàng giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
* Tại phiên tòa, người nhận ủy quyền lại của Ngân hàng TMCP S có đơn xin vắng mặt và giữ nguyên quan điểm về yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn anh Nguyễn Văn H1 vắng mặt không thể hiện quan điểm.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì phát biểu:
Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp, xác định đúng tư cách tố tụng của các đương sự. Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S: Buộc anh Nguyễn Văn H1 phải trả cho TMCP S số tiền nợ lãi quá hạn được tính từ ngày 01/9/2018 đến ngày 10/6/2024 trên số tiền anh H1 thực nhận là 19.990.000đ với lãi suất quá hạn 3,225%/tháng theo quy định; không chấp nhận các khoản: Phí trễ hạn, P vượt hạn mức và phí khác trong Dư nợ gốc mà Ngân hàng yêu cầu.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Công an xã M, huyện B, Hà Nội xác định anh Nguyễn Văn H1 thường trú tại thôn Đ, xã M, huyện B, Hà Nội có nên Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ chuyển vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, Hà Nội giải quyết theo thẩm quyền căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015,. Anh Nguyễn Văn H1 được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng vẫn vắng mặt thể hiện sự trốn tránh. Người đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn anh Nguyễn Thanh H có đơn xin vắng mặt. Căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 227 và khoản 2 Điều 228 BLTTDS Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
3
[2] Xét nội dung yêu cầu khởi kiện:
Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng thể hiện thỏa thuận của các bên là hoàn toàn tự nguyện, hình thức và nội dung không trái với quy định của pháp luật nên có hiệu lực từ thời điểm các bên giao kết hợp đồng theo quy định của Điều 385 và Điều 401 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ngân hàng TMCP S yêu cầu anh Nguyễn Văn H1 phải thanh toán nợ đối với Hợp đồng thẻ ngày 05/04/2018 với hạn mức 20.000.000đ, ngày 30/04/2018 anh H1 thực hiện giao dịch với số tiền là: 19.990.000đ; chưa từng thanh toán cho ngân hàng A lần nào. Do anh H1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Điều 2 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng nên ngày 01/09/2018 ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng. Dư nợ chuyển quá hạn 23.901.168 đồng (bao gồm: giao dịch: 19.990.000đ; lãi trong hạn: 2.208.000đ; phí trễ hạn: 1.005.033đ; phí vượt hạn mức: 269.135đ, phí khác: 429.000đ). Kể từ ngày chuyển nợ quá hạn anh H1 đã thanh toán cho ngân hàng số tiền 22.000.000đ vào ngày 10/06/2024 được trừ vào các khoản theo thứ tự thanh toán được quy định tại Điều 20 của Bảng điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ gồm: lãi trong hạn: 2.208.000đ, phí trễ hạn: 1.005.033đ; phí vượt hạn mức: 269.135đ, phí khác: 429.000đ, gốc 18.088.832đ. Do đó dư nợ gốc còn lại tính từ ngày 10/6/2024 là 1.901.168 đồng. Anh H1 đã vi phạm không trả nợ gốc đúng hạn quy định trong Hợp đồng thẻ nên việc Ngân hàng yêu cầu anh H1 thanh toán số nợ gốc còn thiếu là phù hợp với Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 là có căn cứ.
Căn cứ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ và các thông báo về việc thay đổi lãi suất tại Thông báo số 113/TB-TTT ngày 04/07/2011của Ngân hàng TMCP S thì nguyên đơn đã áp dụng lãi suất là 2,15%/tháng, lãi suất nợ quá hạn đối với phần nợ gốc quá hạn mà bên vay không trả đúng bằng 150% và ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ của anh H1 còn thiếu là 1.901.168 đồng sang nợ quá hạn và áp dụng lãi suất là 2,15%/tháng trên số tiền nợ quá hạn này nhân 150% là phù hợp với khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng ( do các bên thỏa thuận theo hợp đồng). Xác định bị đơn trong quá trình sử dụng thẻ đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với nguyên đơn. Vì vậy việc ngân hàng yêu cầu anh H1 phải tiền nợ lãi của thẻ tín dụng có lãi quá hạn: 54.724.174 đồng tạm tính đến ngày 26/2/2025 là có cơ sở.
Tổng dư nợ ngân hàng yêu cầu anh Nguyễn Văn H1 phải trả số tiền là: 56.625.342 đồng trong đó: nợ gốc là 1.901.168; lãi quá hạn: 54.724.174 đồng tính đến ngày 26/2/2025.
4
Do anh H1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán do vậy ngân hàng yêu cầu anh H1 thanh toán số tiền nợ còn thiếu và tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất chậm thanh toán ngay khi bản án, quyết định có hiệu lực là phù hợp theo quy định của pháp luật dân sự nên HĐXX chấp nhận.
[3] Về án phí: Yêu cầu của Ngân hàng TMCP S được chấp nhận nên được hoàn trả lại án phí. Anh Nguyễn Văn H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm phần nghĩa vụ trả nợ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Các Điều 147, 227, 244, 271, 273, 278 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Các Điều 117, 119, 463, 468, 469 Bộ luật dân sự 2015; Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S đối với anh Nguyễn Văn H1.
Buộc anh Nguyễn Văn H1 phải trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền gốc: 1.901.168 đồng; lãi quá hạn: 54.724.174 đồng. Tổng cộng: 56.625.342 đồng (Năm mươi sáu triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn ba trăm bốn mươi hai đồng) (dư nợ tạm tính đến ngày 26/02/2025).
Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm, anh Nguyễn Văn H1 còn phải tiếp tục chịu lãi suất quá hạn theo mức lãi suất thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S của số tiền nợ gốc chưa thanh toán cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
2. Về án phí:
Anh Nguyễn Văn H1 phải chịu 2.831.267 đồng (Hai triệu tám trăm ba mươi mốt nghìn hai trăm sáu mươi bảy đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền 1.600.000đ Ngân hàng đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0001668 ngày 21/12/2023 tại Chi cục thi hành án huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa
5
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về quyền kháng cáo:
Ngân hàng TMCP S, anh Nguyễn Văn H1 được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Hoàng Trọng Đức |
6
Bản án số 16/2025/DSST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 16/2025/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
