|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 16/2025/DS-ST Ngày: 27 – 3 – 2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Ngọc Kiệt.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Nguyệt;
- Bà Trần Ngọc Phương.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Tấn - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên toà: Bà Mai Thị Năm – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ dân sự thụ lý số: 809/2024/TLST-DS ngày 19 tháng 12 năm 2024, về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐST - KDTM ngày 16 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q; địa chỉ: Tầng A (tầng trệt) và tầng 2, Tòa nhà S - A P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Sỹ S, ông Nguyễn Văn T và ông Vũ Trung K; Cùng địa chỉ: Tầng F, Tòa nhà P, B U, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh – là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 03/12/2024), có mặt.
- Bị đơn: Bà Trần Thị Cẩm G, sinh năm 1982; địa chỉ: C khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q trình bày:
Ngân hàng TMCP Q (V) (sau đây gọi tắt là Ngân hàng V) đã ký với bà Trần Thị Cẩm G các Hợp đồng tín dụng, cụ thể như sau:
Hợp đồng tín dụng số 6913573.21 ngày 22/12/2021 với nội dung: VIB cho bà Trần Thị Cẩm G vay số tiền 6.350.000.000 đồng; Mục đích vay vốn: Nhận chuyển nhượng bất động sản tại thửa đất số 728, tờ bản đồ số 22, địa chỉ: khu phố B, phường B, thị xã (nay là thành phố) T, Bình Dương; Thời hạn vay: 360 tháng. Lãi suất vay: lãi suất tại thời điểm giải ngân: 12.30%/năm. Lãi suất này sẽ được V chủ động điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 3,9%/năm . Ngày trả lãi: hàng tháng vào ngày 10, ngày trả nợ đầu tiên 10/02/2022; Hoàn trả khoản tín dụng gốc: hàng tháng vào ngày 10. Cụ thể: Từ tháng thứ 1 đến tháng thứ 72 mỗi tháng trả 5.000.000 đồng; Từ tháng thứ 73 đến tháng thứ 144 mỗi tháng trả 6.000.000 đồng; Từ tháng thứ 145 đến tháng thứ 216 mỗi tháng trả 17.000.000 đồng; Từ tháng 217 đến tháng thứ 288 mỗi tháng trả 29.000.000 đồng; Từ tháng thứ 289 đến tháng thứ 359 mỗi tháng trả 31.000.000 đồng. Tháng cuối cùng trả số tiền còn lại; Trả phí: theo quy định của V từng thời kỳ. Ngày 27/12/2021, V đã giải ngân cho bà Trần Thị Cẩm G theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 6913573.21 với số tiền 6.350.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với HĐTD.
Căn cứ Đơn phát hành thẻ tín dụng đã ký ngày 24/12/2021, V đồng ý cấp Thẻ tín dụng cho bà Trần Thị Cẩm G chi tiết số thẻ như sau 526887******1559 (số tài khoản thẻ là: C000000000571751) với hạn mức thẻ là 100.000.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ của bà Trần Thị Cẩm G đã nhiều lần chậm thanh toán. Vì vây, phụ thuộc vào vào đánh giá hợp lý các rủi ro tín dụng liên quan đến tài khoản thẻ hoặc chủ thẻ và những thông tin mà V có được, V đã giảm hạn mức thẻ còn 50.000.000 đồng; Lãi suất, phí: Theo bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng VIB.
Để đảm bảo khoản vay thì bà G thế chấp quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 728, tờ bản đồ 22 tọa lạc tại khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Hợp đồng thế chấp số 475870.22.661 ngày 14/01/2022.
Quá trình thực hiện hợp đồng bà Trần Thị Cẩm G đã vi phạm nội dung thỏa thuận tại HĐTD đã ký, khoản vay đã quá hạn thanh toán từ ngày 04/01/2023 và đang xếp loại nợ nhóm 5 là nợ xấu theo quy định tại Điều 10 Thông tư số 11/2021/TT-NHNN của Ngân hàng N.
Do bà T1 không có khả năng thanh toán khoản vay nên ngày 24/5/2023, bà G bàn giao tài sản thế chấp cho Ngân hàng bán đấu giá đề thu hồi khoản vay. Ngân hàng đã tiến hành thủ tục bán đấu giá tài sản bảo đảm và thu được số tiền 6. 046.500.000 đồng. Sau khi trừ các chi phí trong việc xử lý tài sản 54.177.783 đồng thì số tiền còn lại để hoạch toán thu hồi nợ là 5.992.322.217 đồng và được hoạch toán vào số tiền dư nợ gốc. Tính đến ngày 10/5/2024, số tiền dư nợ gốc của bà G
còn nợ là 302.667.783 đồng và 1.514.546.282 đồng tiền lãi. Sau đó bà G không thanh toán thêm cho Ngân hàng khoản tiền nào cho đến nay.
Tính đến ngày 14/03/2025, bà Trần Thị Cẩm G còn nợ Ngân hàng TMCP Q số tiền là: 1.901.451.757 đồng. Cụ thể:
Đối với Hợp đồng tín dụng số 6913573.21 ngày 22/12/2021 dư nợ gốc là 302.667.783 đồng và 1.437.942.391 đồng tiền lãi (trong đó, lãi trong hạn là 503.587.438 và lãi quá hạn là 934.344.953 đồng).
Đới với thẻ tín dụng 526887******1559 (số tài khoản thẻ là: C000000000571751) ngày 24/12/2021 dư nợ gốc 84.595.514 và 95.029.101 đồng tiền lãi, tiền phí (trong đó, lãi quá hạn là 38.321.235 và nợ phí là 56.707.866 đồng).
Do đó, Ngân hàng TMCP Q yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
Buộc bà Trần Thị Cẩm G có trách nhiệm thanh toán số tiền dư nợ gốc 302.667.783 đồng và 1.442.216.241 đồng tiền lãi (trong đó, lãi trong hạn là 503.587.438 và lãi quá hạn là 938.628.803 đồng), tổng cộng là 1.744.894.024 đồng (một tỷ bảy trăm bốn mươi bốn triệu tám trăm chín mươi bốn nghìn không trăm hai mươi bốn đồng) cho Ngân hàng TMCP Q theo Hợp đồng tín dụng số 6913573.21 ngày 22/12/2021.
Buộc bà Trần Thị Cẩm G có trách nhiệm thanh toán số tiền dư nợ gốc 84.595.514 và 95.029.101 đồng tiền lãi, tiền phí (trong đó, lãi quá hạn là 38.321.235 và nợ phí là 56.707.866 đồng), tổng cộng là 179.624.615 đồng (một trăm bảy mươi chín triệu sáu trăm hai mươi bốn nghìn sáu trăm mười lăm đồng) cho Ngân hàng TMCP Q theo Đơn phát hành thẻ tín dụng đã ký ngày 24/12/2021.
Buộc bà Trần Thị Cẩm G tiếp tục thanh toán lãi, phí kể từ ngày 28/03/2025 cho đến khi bà Trần Thị Cẩm G thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ đã ký (Chi tiết tại HĐTD số 6913573.21 ngày 22/12/2021, Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 6913573.21 ngày 27/12/2021, Đơn phát hành thẻ tín dụng đã ký ngày 24/12/2021).
- Theo bản ý kiến bị đơn trình bày: Thống nhất với lời trình bày của ngân hàng về việc ký hợp đồng tín dụng, số tiền vay cũng như tài sản bảo đảm khoản vay và bà G bàn giao tài sản cho ngân hàng P để thu hồi nợ. Tuy nhiên, khi ngân hàng yêu cầu bà bàn giao tài sản thế chấp để bán thu hồi nợ thì sẽ xóa hết khoản nợ vay và thẻ tín dụng cho bà G nên bà G đồng ý giao tài sản bảo đảm cho ngân hàng. Nay ngân hàng lại yêu cầu bà G trả số tiền vay còn nợ nên bà G không đồng ý. Bà G đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và nội dung giải quyết vụ án:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật Tố tụng dân
sự. Ngân hàng chấp hành đúng pháp luật tố tụng; bà G không chấp hành đúng pháp luật tố tụng.
-Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh tụng của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q đối với bị đơn bà Trần Thị Cẩm G.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng khởi kiện tranh chấp đối với bà Trần Thị Cẩm G liên quan đến Hợp đồng tín dụng và bị đơn bà Trần Thị Cẩm G cư trú tại địa chỉ C khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Do đó, quan hệ pháp luật trong vụ án này được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương theo quy định Điều 30, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2]. Bị đơn bà Trần Thị Cẩm G được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng và tham gia phiên tòa xét xử lần thứ 2 theo đúng quy định tại các Điều 177; Điều 220; Điều 227 và Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng đều vắng mặt không rõ lý do. Việc vắng mặt của bị đơn bà Trần Thị Cẩm G trong quá trình tố tụng được xem là từ bỏ quyền trình bày, đưa ra chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà G. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng nêu trên.
[1.3]. Xét thấy ngân hàng không tính lãi, phí phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đối với đơn phát hành thẻ tín dụng đã ký ngày 24/12/2021từ tháng 02/2024 đến ngày xét xử mà chỉ yêu cầu tính lãi từ ngày xét xử đến khi thanh toán xong dư nợ với mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Xét thấy đây là sự tự nguyện của ngân hàng nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1]. Hợp đồng tín dụng được ký kết giữa các đương sự là sự tự nguyện, phù hợp pháp luật. Tổng số tiền Ngân hàng đã cho bị đơn vay là 6.450.000.000 đồng, trong đó theo Hợp đồng tín dụng số 6913573.21 ngày 22/12/2021 là 6.350.000.000 đồng và 100.000.000 đồng theo đơn phát hành thẻ tín dụng đã ký ngày 24/12/2021. Do đó, bị đơn bà Trần Thị Cẩm G phải có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền gốc và lãi, phí theo thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng đã ký kết.
[2.2]. Để đảm bảo khoản vay, bà G sử dụng quyền sử dụng đất thửa đất số 728, tờ bản đồ 22 tọa lạc tại khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương để bảo đảm khoản vay theo Hợp đồng thế chấp số 475870.22.661 ngày 14/01/2022.
[2.3]. Trong quá trình giải quyết, bị đơn bà Trần Thị Cẩm G cho rằng ngân hàng yêu cầu bà bàn giao tài sản bảo đảm các khoản vay là quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 728, tờ bản đồ 22 tọa lạc tại khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương để ngân hàng phát mãi thu hồi nợ thì sẽ xóa hết khoản nợ vay và thẻ tín dụng cho bà G. Tuy nhiên, theo Biên bản tự nguyện bàn giao tài sản bảo đảm ngày 24/5/2023 giữa bà Trần Thị Cẩm G và Ngân hàng thể hiện nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bàn giao không đủ để thanh toán hết các khoản nợ thì bên vay vốn vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho ngân hàng. Do đó, ý kiến trình bày của bà G là không phù hợp và cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh.
[2.4]. Trên cơ sở bàn giao tài sản bảo đảm của bà G để Ngân hàng bán phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ, Ngân hàng đã tiến hành bán đấu giá tài sản bảo đảm với tổng giá trị thu từ việc xử lý tài sản bảo đảm là 6.046.500.000 đồng theo biên bản đấu giá tài sản ngày 01/12/2023. Sau khi khấu trừ các chi phí xử lý tài sản là 54.177.783 đồng thì số tiền còn để hạch toán thu hồi nợ là 5.992.322.217 đồng và ngân hàng dùng số tiền nay để thanh toán số tiền vay gốc của hợp đồng vay Hợp đồng tín dụng số 6913573.21 ngày 22/12/2021 nên dư nợ gốc còn lại là 302.677.783 đồng.
[2.5]. Theo thông báo số 092704.24 ngày 22/05/2024 của Ngân hàng TMCP Q thì tính đến ngày 10/5/2024 thì bà Trần Thị Cẩm G còn nợ Ngân hàng với tổng số tiền là 1.817.214.065 đồng, trong đó cụ thể của từng hợp đồng như sau:
Đối với hợp đồng tín dụng số 6913573.21 ngày 22/12/2021 thì dư nợ gốc là 302.677.783 đồng và 1.334.911.667 đồng tiền lãi.
Đối với hợp đồng tín dụng theo đơn phát hành thẻ tín dụng đã ký ngày 24/12/2021 thì dư nợ gốc là 84.595.514 và tiền lãi, phí là 95.029.101 đồng.
[2.6]. Từ ngày ngân hàng thông báo cho bà G biết số tiền còn nợ sau khi ngân hàng phát mãi tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho đến nay thì bà G không thanh toán bất kỳ khoản tiền nào cho ngân hàng.
Theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 6913573.21 ngày 22/12/2021 và đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 6913573.21 ngày 27/12/2021 thì mức lãi suất tại thời điểm giải ngân là 12,3%/năm và mức lãi suất này sẽ được ngân hàng chủ động điều chỉnh 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 3,9%/năm. Mặt khác, theo điều khoản và điều kiện cấp tín dụng thì lãi suất quá hạn bằng 150% của lãi suất vay trong hạn và bất kỳ khoản tiền lãi nào đến hạn phải thanh toán mà chưa thanh toán sẽ chịu mức lãi suất chậm trả bằng 10%/năm tính trên khoản tiền lãi chậm trả.
[2.7]. Tính đến ngày xét xử 27/3/2025, bà Trần Thị Cẩm G còn nợ Ngân hàng TMCP Q với số dư nợ của từng hợp đồng tín dụng như sau:
- Hợp đồng tín dụng số 6913573.21 ngày 22/12/2021 với số tiền dư nợ gốc là 302.667.783 đồng và 1.442.216.241 đồng tiền lãi (trong đó, lãi trong hạn là 503.587.438 và lãi quá hạn là 938.628.803 đồng), tổng cộng là 1.744.894.024 đồng.
- Hợp đồng tín dụng theo đơn phát hành thẻ tín dụng đã ký ngày 24/12/2021 với dư nợ gốc 84.595.514 và 95.029.101 đồng tiền lãi, tiền phí (trong đó, lãi quá hạn là 38.321.235 và nợ phí là 56.707.866 đồng), tổng cộng là 179.624.615 đồng.
[2.8]. Theo Điều 91 và 95 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010 quy định:
“Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. “Tổ chức tín dụng có quyền chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm các quy định trong hợp đồng cấp tín dụng. Trong trường hợp khách hàng không trả được nợ đến hạn, nếu các bên không có thỏa thuận khác thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý nợ, tài sản bảo đảm tiền vay theo hợp đồng cấp tín dụng, hợp đồng bảo đảm và quy định của pháp luật”.
Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà G có trách nhiệm trả số tiền vay nợ gốc và tiền lãi, phí còn nợ; tiền lãi phát sinh từ ngày xét xử 27/3/2025 trên dư theo mức lãi suất trong các hợp đồng tín dụng cho đến khi bà G thanh toán hết số tiền nợ là có căn cứ.
[2.9]. Từ phân tích nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q đối với bị đơn bà Trần Thị Cẩm G.
[3]. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là phù hợp quy định của pháp luật.
[4]. Về án phí: Bị đơn bà Trần Thị Cẩm G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản 3 Điều 26, các Điều 35, 36, 39, 92, 147, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự 2015;
- - Khoản 2 Điều 91, Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q đối với bị đơn bà Trần Thị Cẩm G về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
1.1. Buộc bà Trần Thị Cẩm G có trách nhiệm thanh toán số tiền dư nợ gốc 302.667.783 đồng và 1.442.216.241 đồng tiền lãi (trong đó, lãi trong hạn là 503.587.438 và lãi quá hạn là 938.628.803 đồng), tổng cộng là 1.744.894.024 đồng (một tỷ bảy trăm bốn mươi bốn triệu tám trăm chín mươi bốn nghìn không trăm hai mươi bốn đồng) cho Ngân hàng TMCP Q theo Hợp đồng tín dụng số 6913573.21 ngày 22/12/2021.
1.2. Buộc bà Trần Thị Cẩm G có trách nhiệm thanh toán số tiền dư nợ gốc 84.595.514 và 95.029.101 đồng tiền lãi, tiền phí (trong đó, lãi quá hạn là 38.321.235 và nợ phí là 56.707.866 đồng), tổng cộng là 179.624.615 đồng (một trăm bảy mươi chín triệu sáu trăm hai mươi bốn nghìn sáu trăm mười lăm đồng) cho Ngân hàng TMCP Q theo đơn phát hành thẻ tín dụng đã ký ngày 24/12/2021.
1.3. Kể từ ngày 28/3/2025, bà Trần Thị Cẩm G có nghĩa vụ tiếp tục chịu tiền lãi quá hạn phát sinh trên dư nợ gốc theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và Đơn phát hành thẻ tín dụng nêu trên cho đến khi thanh toán xong các khoản tiền nêu trên.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị Cẩm G phải chịu 69.735.559 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại cho Ngân hàng TMCP Q số tiền tạm ứng án phí 33.530.100 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009715 ngày 16/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2, Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Ngọc K1 |
Bản án số 16/2025/DS-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 16/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ngân hàng TMCP Q - Tràn Thị Cẩm G
