TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 16/2025/DS-ST
Ngày: 25-02-2025
V/v tranh chấp thừa kế
quyền sử dụng đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Quốc Thái.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thanh Minh Hiền.
- Bà Hồ Thị Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thống Nhất - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phan Hoàng Yến – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 986/2023/TLST-DS ngày 06 tháng 12 năm 2023, về việc “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 01 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2025/QĐST-DS, ngày ngày 07 tháng 02 năm 2025; Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án dân sự số 11/TB-TA, ngày 17/02/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Bà Trần Thị H, sinh năm: 1959;
- Ông Trần Văn T, sinh năm: 1968;
- Bà Trần Thị C, sinh năm: 1962;
- Bà Trần Thị Ánh L, sinh năm: 1970;
- Bà Trần Thị Kim L1, sinh năm: 1971;
- Bà Trần Ngọc A, sinh năm: 1972;
- Ông Trần Ngọc T1, sinh năm: 1974;
- Bà Trần Ngọc P, sinh năm: 1975;
Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Địa chỉ: Xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Địa chỉ: Tổ A, khóm B, Phường E, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Ấp M, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Ông Trần Thái B, sinh năm: 1979.
Địa chỉ: Ấp H, T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Võ Thành S, sinh năm 1973;
- Bà Nguyễn Kim D, sinh năm 1970;
- Bà Ngô Thị L2, sinh năm 1974;
- Anh Trần Vương T2, sinh năm 2001;
- Chị Trần Thị Tú T3, sinh năm 2003;
- Bà Huỳnh Thị Ngọc C1, sinh năm 1969.
Địa chỉ ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Cùng địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Đồng.
Địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Đồng.
(Bà H, ông T, bà L, bà Ngọc A, ông T1, bà P, ông B, bà C1, bà L2 có mặt; Ông S, bà D có đơn xin vắng mặt; Bà C, bà L1, anh T2, chị T3 vắng mặt không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Ý kiến trình bày của nguyên đơn bà Trần Thị H:
Nguồn gốc đất là của cha mẹ bà H là cụ Trần Văn T4, sinh năm: 1933 (chết ngày: 12/10/2009), mẹ là cụ Nguyễn Thị N, sinh năm: 1935 (chết ngày: 12/3/2005) nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn V, sinh năm: 1965, địa chỉ: xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang từ năm 1999, tổng diện tích nhận chuyển nhượng là 11.650m², đất tọa lạc tại xã Ấ, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, giá nhận chuyển nhượng là 13 lượng vàng 24kr.
Sinh thời, cụ T4 và cụ N có tổng cộng 09 gồm: 3 người con trai và 6 người con gái gồm: Trần Thị H, Trần Văn T, Trần Thị C, Trần Thị Ánh L, Trần Thị Kim L1, Trần Ngọc A, Trần Ngọc T1, Trần Ngọc P, Trần Thái B.
Lúc nhận chuyển nhượng đất từ ông V, anh chị em đã lớn nên biết rõ việc nhận chuyển nhượng với ông V. Năm 2000, ông V giao đất cho cụ T4 và cụ N sử dụng. Trong hộ khẩu gia đình lúc bấy giờ gồm có cụ Trần Văn T4, cụ Nguyễn Thị N, ông Trần Ngọc T1, bà Ngô Thị L2 (vợ T1), bà Trần Ngọc P, ông Trần Thái B. Do ông Trần Ngọc T1 đã có vợ, cha mẹ lại già yếu không tiện việc đi lại nên gia đình có bàn bạc với nhau cho ông Trần Thái B đứng đại diện hộ gia đình ký hợp đồng nhận chuyển nhượng quyền sử dụng toàn bộ diện tích 11.650m² với ông V để thuận tiện trong việc làm các thủ tục giấy tờ, và vay vốn tại Ngân hàng vì ông B còn trẻ và chưa lập gia đình.
Sau đó, UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Trần Thái B được quyền sử dụng diện tích 11.650m²; thửa 305; tờ bản đồ số 04; mục đích sử dụng: đất Lúa; số vào sổ: 3316 QSDĐ/H, tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Năm 2000, sau khi ông V giao đất thì cụ T4, cụ N có cho vợ chồng ông Trần Ngọc T1, bà Ngô Thị L2 cất nhà ở trên đất. Vợ chồng ông T1 đã ở ổn định từ đó cho đến nay, anh chị em trong nhà đều biết, không ai tranh chấp. Đến khoảng năm 2002, cụ T4, cụ N dời nhà từ xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang về xã T, huyện T sinh sống và xây dựng nhà ở cạnh nhà ông T1. Lúc này, ông B chưa lập gia đình nên sống chung với cụ T4, cụ N.
Năm 2005, cụ N chết không để lại di chúc. Năm 2009, ông B đại diện hộ gia đình (có sự đồng ý của ông Trần Văn T4) chuyển nhượng lại cho vợ chồng ông T1 diện tích 3.000m² nằm trong tổng 11.650m², thuộc một phần thửa 305, tờ bản đồ số 04, bằng giấy tay với giá 42 chỉ vàng 24kr, vợ chồng ông T1 đã trả 32 chỉ vàng, còn lại 10 chỉ vàng khi nào ông B làm thủ tục sang tên tách bộ xong, thì vợ chồng T1 sẽ trả đủ. Ông B đã giao đất cho vợ chồng T1 canh tác từ năm 2009 cho đến nay.
Cùng năm 2009, cụ T4 chết không để lại di chúc. Toàn bộ diện tích đất do ông B đại diện hộ gia đình đứng tên chưa được sang tên tách bộ cho ông T1, đất và căn nhà do cha mẹ cất để lại chưa chia thừa kế, chưa giao cho ai sử dụng. Theo bản án số 192/2019/DS-PT ngày 27/6/2019 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của Tòa án nhân dân Tỉnh Đồng Tháp quyết định buộc hộ ông Trần Thái B (gồm Trần Thái B, Phạm Thị M, cháu Phan Thanh P1, cháu Phan Thị Cẩm T5) tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng (giấy sang nhượng đất) ngày 22/5/2009 với ông Trần Ngọc T1 và tách quyền sử dụng đất diện tích 3.001,5m² cho ông T1 sử dụng, thuộc một phần thửa 305, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Như vậy, sau khi trừ đi diện tích đã chuyển nhượng cho ông T1, đất do cha mẹ chết để lại còn lại là 8648,5m² và một căn nhà thờ diện tích 105m².
Các anh chị em trong gia đình thống nhất giao căn nhà thờ do cha mẹ chết để lại có diện tích 105m², nền bê-tông lót gạch tàu, cột cây, vách ván, mái tole, nằm trong tổng diện tích 8648,5m² (sau khi đã tách bộ cho Trần Ngọc T1), thuộc thửa 305, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp cho ông B quản lý và sử dụng.
Nay bà Trần Thị H yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười giải quyết buộc ông Trần Thái B phải chia thừa kế quyền sử dụng đất của cha mẹ chết để lại làm 09 phần cho 09 anh chị em trong gia đình, mỗi người một kỷ phần thuộc một phần thửa 305, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Bà H yêu cầu được nhận 01 phần đất diện tích đo đạc thực tế là 883,6m² (trong phạm vi các mốc L14-L13-L12-L2-L1 về mốc L14).
Bà H thống nhất với Sơ đồ đo đạc do Công ty TNHH D1.
Trước đây việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông B và ông T1 thì các anh chị em trong gia đình đều biết.
Đối với kết quả của Hội đồng định giá thì bà H thống nhất.
* Ý kiến trình bày của nguyên đơn ông Trần Văn T:
Ông T thống nhất với toàn bộ lời trình bày của bà Trần Thị H về nguồn gốc đất, cha mẹ cũng như anh chị em trong gia đình.
Nay ông Trần Văn T yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười giải quyết buộc ông Trần Thái B phải chia thừa kế quyền sử dụng đất của cha mẹ chết để lại làm 09 phần cho 09 anh chị em trong gia đình, mỗi người một kỷ phần thuộc một phần thửa 305, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Ông T yêu cầu được nhận 01 phần đất diện tích đo đạc thực tế là 401,8m² (trong phạm vi các mốc M4-M5-M10-L14-M9 về mốc M4).
Ông T không biết việc tranh chấp đất giữa ông B và ông T1 vào năm 2017.
Ông T thống nhất với Sơ đồ đo đạc do Công ty TNHH D1.
Đối với kết quả của Hội đồng định giá thì ông T thống nhất.
* Ý kiến trình bày của nguyên đơn bà Trần Thị C tại phiên họp ngày 21/12/2023:
Bà C thống nhất với toàn bộ lời trình bày của bà Trần Thị H về nguồn gốc đất, cha mẹ cũng như anh chị em trong gia đình.
Nay bà Trần Thị C yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười giải quyết buộc ông Trần Thái B phải chia thừa kế quyền sử dụng đất của cha mẹ chết để lại làm 09 phần cho 09 anh chị em trong gia đình, mỗi người một kỷ phần thuộc một phần thửa 305, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Bà C yêu cầu được nhận 01 phần đất diện tích đo đạc thực tế là 883,3m² (trong phạm vi các mốc L12-L11-L3-L2 về mốc L12).
* Ý kiến trình bày của nguyên đơn bà Trần Thị Kim L1:
Bà Kim L1 thống nhất với toàn bộ lời trình bày của bà Trần Thị H về nguồn gốc đất, cha mẹ cũng như anh chị em trong gia đình.
Nay bà Trần Thị Kim L1 yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười giải quyết buộc ông Trần Thái B phải chia thừa kế quyền sử dụng đất của cha mẹ chết để lại làm 09 phần cho 09 anh chị em trong gia đình, mỗi người một kỷ phần thuộc một phần thửa 305, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Bà Kim L1 yêu cầu được nhận 01 phần đất diện tích đo đạc thực tế là 883,2m² (trong phạm vi các mốc L11-L10-L4-L3 về mốc L11).
Bà Kim L1 không biết việc tranh chấp giữa ông B và ông T1 vào năm 2017.
Bà L1 thống nhất với Sơ đồ đo đạc do Công ty TNHH D1.
Đối với kết quả của Hội đồng định giá thì bà L1 thống nhất.
* Ý kiến trình bày của nguyên đơn bà Trần Ngọc A:
Bà Ngọc A thống nhất với toàn bộ lời trình bày của bà Trần Thị H về nguồn gốc đất, cha mẹ cũng như anh chị em trong gia đình.
Nay bà Trần Ngọc A yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười giải quyết buộc ông Trần Thái B phải chia thừa kế quyền sử dụng đất của cha mẹ chết để lại làm 09 phần cho 09 anh chị em trong gia đình, mỗi người một kỷ phần thuộc một phần thửa 305, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Bà Ngọc A yêu cầu được nhận 01 phần đất diện tích đo đạc thực tế là 883,0m² (trong phạm vi các mốc L10-L9-L5-L4 về mốc L10).
Bà Ngọc A không biết việc tranh chấp giữa ông B và ông T1 vào năm 2017.
Bà Ngọc A thống nhất với Sơ đồ đo đạc do Công ty TNHH D1.
Đối với kết quả của Hội đồng định giá thì bà Ngọc A thống nhất.
* Ý kiến trình bày của nguyên đơn ông Trần Ngọc T1:
Ông T1 thống nhất với toàn bộ lời trình bày của bà Trần Thị H về nguồn gốc đất, cha mẹ cũng như anh chị em trong gia đình.
Năm 2017, ông T1 có tranh chấp với ông B đối với phần đất có diện tích đo đạc thực tế là 3.001,5 m² thuộc một phần thửa 305, tờ bản đồ số 4 (bản đồ 299). Do trước đây, ông T1 có nhận chuyển nhượng từ ông B phần đất trên nhưng do ông B không thực hiện sang tên cho ông T1 nên hai bên phát sinh tranh chấp. Theo bản án của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp tuyên buộc hộ ông B sang tên phần đất trên lại cho ông T1. Ngoài ra, bản án còn tuyên buộc ông B tách quyền sử dụng đất cho ông T1 phần đất có diện tích 255,4m², thuộc một phần thửa 305, tờ bản đồ số 4 là phần đất đường cộ lúa giáp với đất ông Võ Thành C2.
Ông B chưa giao đất, khi cơ quan thi hành án tiến hành đo đạc thì ông T1 yêu cầu tạm ngưng thi hành để khởi kiện chia thừa kế đối với phần đất trên. Đối với bản án của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp thì ông T1 không có khiếu nại gì. Đối với căn nhà của ông T1 ở trên đất thì do cha mẹ cho nên không đồng ý di dời mà yêu cầu được chia thừa kế phần đất trên.
Ông T1 xác định thống nhất với Sơ đồ đo đạc do Công ty TNHH D1.
Hiện nay, trên phần đất tranh chấp có hộ ông T1 đang sinh sống. Hộ ông T1 gồm ông T1, vợ là bà Ngô Thị L2, sinh năm 1974, con Trần Vương T2, sinh năm 2001, con Trần Thị Tú T3, sinh năm 2003.
Nay ông Trần Ngọc T1 yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười giải quyết buộc ông Trần Thái B phải chia thừa kế quyền sử dụng đất của cha mẹ chết để lại làm 09 phần cho 09 anh chị em trong gia đình, mỗi người một kỷ phần thuộc một phần thửa 305, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Ông T1 yêu cầu được nhận 01 phần đất diện tích đo đạc thực tế là 387,9m² (trong phạm vi các mốc M8-M7-M6- M5-M10-M11 về mốc M8).
Đối với kết quả của Hội đồng định giá thì ông T1 thống nhất.
* Ý kiến trình bày của nguyên đơn bà Trần Ngọc P:
Bà Ngọc P thống nhất với toàn bộ lời trình bày của bà Trần Thị H về nguồn gốc đất, cha mẹ cũng như anh chị em trong gia đình.
Nay bà Trần Ngọc P yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười giải quyết buộc ông Trần Thái B phải chia thừa kế quyền sử dụng đất của cha mẹ chết để lại làm 09 phần cho 09 anh chị em trong gia đình, mỗi người một kỷ phần thuộc một phần thửa 305, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Bà Ngọc P yêu cầu được nhận 01 phần đất tương đương diện tích đo đạc thực tế là 882,8m² (trong phạm vi các mốc L9-L8-L6-L5 về mốc L9).
Việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông B với ông T1 đối với thửa 305 thì anh chị em trong gia đình đều biết. Theo bản án của Toà án thì ông B có trách nhiệm sang tên phần đất chuyển nhượng cho ông T1 thì ông B phải có trách nhiệm thực hiện việc sang tên cho ông T1.
Bà P thống nhất với Sơ đồ đo đạc do Công ty TNHH D1.
Đối với kết quả của Hội đồng định giá thì bà P thống nhất.
* Ý kiến trình bày của nguyên đơn bà Trần Thị Ánh L:
Bà Ngọc P thống nhất với toàn bộ lời trình bày của bà Trần Thị H về nguồn gốc đất, cha mẹ cũng như anh chị em trong gia đình.
Nay bà Trần Thị Ánh L yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười giải quyết buộc ông Trần Thái B phải chia thừa kế quyền sử dụng đất của cha mẹ chết để lại làm 09 phần cho 09 anh chị em trong gia đình, mỗi người một kỷ phần thuộc một phần thửa 305, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Bà Ngọc P yêu cầu được nhận 01 phần đất tương đương diện tích đo đạc thực tế là 883,0m² (trong phạm vi các mốc L8-L7-M13-L6 về mốc L8).
Bà Ánh L không biết việc tranh chấp giữa ông B và ông T1 vào năm 2017.
Bà Ánh L thống nhất với Sơ đồ đo đạc do Công ty TNHH D1.
Đối với kết quả của Hội đồng định giá thì bà L thống nhất.
* Bị đơn ông Trần Thái B trình bày kiến:
Nguyên nguồn gốc đất tại thửa đất số 305, tờ bản đồ số 04, diện tích là 11.650m², tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp do ông B nhận chuyển nhượng bằng hợp đồng viết tay từ ông Nguyễn Văn V vào năm 1999 với giá chuyển nhượng là 13 lượng vàng 24kara, ông B đã giao đủ vàng khi nhận đất trong năm 1999. Đây là vàng ông B làm ra và vay thêm để mua đất của ông V.
Sau đó đến năm 2001, ông B với ông Vũ làm hợp đồng công chứng, sang tên tách bộ để ông B đứng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ông B sử dụng đất ổn định từ năm 1999 đến nay, không tranh chấp. Nhưng tuy nhiên không hiểu lý do gì mà các nguyên đơn khởi kiện ông B yêu cầu chia thừa kế đối với thửa đất số 305, tờ bản đồ số 04, diện tích là 11.650m², tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 305, tờ bản đồ số 4 hiện chưa được cấp đổi theo bản đồ địa chính chính quy và do ông B đang giữ, hiện không thế chấp cho tổ chức tín dụng hay cá nhân.
Ông B không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn nêu trên, đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Năm 2015, ông B có tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông T1 đối với diện tích 3.001,5m². Ông T1 sử dụng thực tế đến 05 công đất. Theo bản án của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, buộc ông B có trách nhiệm sang tên cho ông T1 phần đất có diện tích 3.001,5m², buộc hộ ông Tâm G trả lại cho ông B phần đất có diện tích 1.245,4m². Đối với bản án của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp thì ông B không có khiếu nại gì.
Ông B thống nhất với diện tích đất tranh chấp đo đạc thực tế theo sơ đồ đo đạc do Công ty TNHH D1.
Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông B với ông S, bà D thì không có yêu cầu giải quyết trong vụ án này mà để hai bên tự thoả thuận, nếu có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ án khác.
Hiện nay, trên phần đất tranh chấp có hộ ông B đang sing sống. Hộ ông B gồm có ông B và vợ là Huỳnh Thị Ngọc C1, sinh năm 1969. Ngoài ra, không còn ai khác. Theo bản án của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp thì hộ ông B lúc đó gồm có ông B, Phạm Thị M, Phan Thanh P1, Phan Thị Cẩm T5, đối với Phan Thanh P1, Phan Thị Cẩm T5 là con riêng của bà Phạm Thị M. Hiện tại, ông B đã ly hôn với bà M và bà M cùng Thanh P1, C không còn sinh sống trên đất.
Tại phiên họp, ông B không thống nhất với kết quả định giá của Hội đồng định giá tài sản nhưng ông B không yêu cầu tổ chức định giá.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông S, bà D thống nhất trình bày:
Ngày 11/5/2023, ông S và bà D có nhận chuyển nhượng từ ông B phần đất diện tích khoảng 5.000m², thuộc một phần thửa 305, tờ bản đồ số 4 do ông B đứng tên với giá là 890.000.000 đồng (T6 trăm chín mươi triệu đồng), đã đặt cọc số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng). Đối với số tiền cọc 500.000.000 đồng thì ông S, bà D đã giao cho ông B xong, ông B đã giao một phần đất cho ông S, bà D canh tác. Hai bên thoả thuận khi nào ông B tách bộ sang tên xong thì ông S, bà D sẽ giao tiếp số tiền còn lại.
Ông S và bà D không có yêu cầu giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông B trong vụ án này. Nếu giữa hai bên có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ án khác. Ngoài ra, ông S, bà D không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngô Thị L2 trình bày:
Bà L2 thống nhất với toàn bộ lời trình bày và ý kiến của ông Trần Ngọc T1, ngoài ra không trình bày gì thêm.
Bà L2 thống nhất phần đất mà bà yêu cầu theo diện tích đo đạc thực tế theo Sơ đồ đo đạc do Công ty TNHH D1.
Đối với kết quả của Hội đồng định giá thì bà L2 thống nhất.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Huỳnh Thị Ngọc C1 trình bày:
Bà C1 thống nhất với toàn bộ lời trình bày và ý kiến của ông Trần Thái B, ngoài ra không trình bày gì thêm.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm giải quyết vụ án và đề nghị:
Áp dụng Điểm a, Khoản 2 BLTTDS 2015; Điều 26 Luật đất đai 2024.
- Bác toàn bộ yêu cầu của các nguyên đơn Trần Thị H, ông Trần Văn T, bà Trần Thị Kim L1, bà Trần Ngọc A, ông Trần Ngọc T1, bà Trần Ngọc P, bà Trần Thị Ánh L chia thừa kế QSDĐ đối với thửa 305 tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp làm 09 phần cho 09 anh chị em trong gia đình, mỗi người một kỷ phần thuộc một phần thửa 305.
- Đình chỉ yêu cầu của bà Trần Thị C về việc yêu cầu chia thừa kế QSDĐ đối với thửa 305 tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp làm 09 phần cho 09 anh chị em trong gia đình, mỗi người một kỷ phần thuộc một phần thửa 305.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa.
Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Các nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông Trần Thái B chia thừa kế quyền sử dụng đất đối với thửa 305, tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp cho các nguyên đơn nên căn cứ khoản 5 Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười.
[1.2] Về quyền khởi kiện:
Đối với thửa đất tranh chấp, vào năm 2019 đã được Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp giải quyết bằng bản án có hiệu lực pháp luật số 192/2019/DS-ST, ngày 274/6/2019. Tuy nhiên, vụ án trên chỉ giải quyết quan hệ tranh chấp quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Trong vụ án này, các nguyên đơn khởi kiện cho rằng phần đất tranh chấp là di sản thừa kế của cha mẹ để lại và khởi kiện yêu cầu chia thừa kế quyền sử dụng đất nên không thuộc trường hợp sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định.
[1.3] Về chấp hành pháp luật tố tụng:
Nguyên đơn bà Trần Thị C, anh Trần Vương T2, chị Trần Thị Tú T3 đã được triệu tập hợp lệ tham dự các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như các phiên tòa sơ thẩm, nhưng vẫn vắng mặt không lý do, không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Đối với bà Trần Thị Kim L1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa, không có đơn xin vắng mặt.
Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo quy định.
[2] Về nội dung vụ án:
Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn về việc yêu cầu ông Trần Thái B chia thừa kế quyền sử dụng đối với phần đất thuộc thửa 305, tờ bản đồ số 4 là không có cơ sở chấp nhận vì:
[2.1] Về nguồn gốc phần đất tranh chấp:
Theo lời trình bày của các đương sự thì nguồn gốc phần đất tranh chấp do nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Văn V mà có. Tuy nhiên, các nguyên đơn cho rằng phần đất trên là do cụ Trần Văn T4 và cụ Nguyễn Thị N (là cha mẹ của nguyên đơn, bị đơn) nhận chuyển nhượng từ ông V.
Theo biên bản lấy lời khai, ông V trình bày phần đất trên do ông V chuyển nhượng cho cụ T4 vào năm 1999 với giá 13 cây vàng. Việc mua đất là do ông T1 giới thiệu cho ông B gặp ông V, việc thỏa thuận chuyển nhượng đất là giữa ông V và cụ T4 thỏa thuận, khi giao vàng thì ông B và cụ T4 cùng tới nhà ông V để giao vàng.
Theo lời trình bày của ông B thì phần đất tranh chấp là do ông B nhận chuyển nhượng từ ông V vào năm 1999 với giá là 13 cây vàng, số vàng này là do ông B làm ra và vay thêm để mua đất của ông V.
Theo hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa 305 thì các thủ tục chuyển nhượng là do ông B và ông V thực hiện, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 13/6/2001 được Ủy ban nhân dân huyện T xác nhận ngày 02/7/2001, đến ngày 10/7/2001 thì ông B được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông B đúng trình tự, thủ tục theo quy định.
Như vậy về nguồn gốc phần đất tranh chấp, các bên đều thừa nhận do nhận chuyển nhượng từ ông V. Ông B cho rằng là do ông N1 chuyển nhượng của ông V. Các nguyên đơn cho rằng do cụ T4, cụ N nhận chuyển nhượng nhưng để ông B đứng tên vì ông B là con út sống chung với cha mẹ và để thuận tiện trong việc làm giấy tờ và vay vốn ngân hàng, nhưng các nguyên đơn không có tài liệu, chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình. Đối với ông B là người ký hợp đồng chuyển nhượng với ông V, khi giao vàng thì có mặt ông B và cụ T4, sau khi nhận chuyển nhượng thì ông B được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Từ những phân tích trên cho thấy, phần đất trên là do ông B nhận chuyển nhượng từ hộ ông V.
[3.2] Về quá trình sử dụng đất:
Theo ông T1 trình bày thì sau khi ông V chuyển nhượng đất, ông T1 được cha mẹ cho ở trên đất từ năm 2000, sau đó đến năm 2002 thì cụ N, cụ T4 và ông B mới về sinh sống trên đất. Các nguyên đơn còn lại cũng thống nhất với lời trình bày trên.
Theo ông B trình bày thì sau khi thỏa thuận chuyển nhượng vào năm 1999 thì ông B đã sử dụng đất cho đến nay.
Lời trình bày của nguyên đơn và bị đơn có mâu thuẫn và cũng không có tài liệu, chứng cứ để xác định lời trình bày nào đúng sự thật.
Tuy nhiên, căn cứ theo Bản án dân sự phúc thẩm số 192/2019/DS-PT, ngày 27/6/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp thì trong quá trình sử dụng đất, vào năm 2005 giữa ông B và ông T1 có thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 3.000m², thuộc thửa 305, tờ bản đồ số 4 với giá là 42 chỉ vàng 24kr, đến ngày 22/5/2009 lập lại giấy lần hai thể hiện nội dung ông B chuyển nhượng cho ông T1 diện tích 3.000m² với giá 42 chỉ vàng 24kr, không thể hiện vị trí đất. Đồng thời trong bản án trên cũng giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông B và ông T1 đối với diện tích 1.245,4m² và xác định ông T1 không có chứng cứ để chứng minh diện tích trên là do cụ T4 cho ông T1.
Các nguyên đơn cho rằng phần đất thửa 305, tờ bản đồ số 4, diện tích tổng cộng 11.650m², trong đó có phần diện tích 3.001,5m² là phần đất mà ông T1 nhận chuyển nhượng của ông B đã được giải quyết trong Bản dân sự phúc thẩm số 192/2019/DS-PT, ngày 27/6/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp nên không có yêu cầu chia mà các nguyên đơn chỉ yêu cầu chia thừa kế quyền sử dụng đất đối với phần đất còn lại (trong đó bao gồm cả phần đất diện tích 1.245,4m² đã được giải quyết buộc hộ ông T1 phải giao trả cho ông B). Các nguyên đơn chỉ trình bày bằng lời nói, không có chứng cứ chứng minh phần đất thửa 305, tờ bản đồ số 4 là di sản do cụ T4 và cụ N chết để lại. Bên cạnh đó, các nguyên cho rằng 13 cây vàng 24kr là của cụ T4 bỏ ra để nhận chuyển nhượng đất của ông V, tuy nhiên các nguyên đơn không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn là không có cơ sở chấp nhận.
[4] Về chi phí tố tụng:
Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 19/01/2024 là 1.000.000 đồng; Biên bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng ngày 16/10/2024 là 7.920.000 đồng; Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 26/12/2024 là 500.000 đồng; Chi phí định giá tài sản theo Biên bản định giá tài sản là 1.000.000 đồng. Tổng cộng là 10.420.000 đồng do ông Trần Ngọc T1 đã tạm ứng và chi xong.
Do không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn nên các nguyên đơn phải chịu chi phí tố tụng theo quy định tổng cộng là 10.420.000 đồng (Mười triệu bốn trăm hai mươi nghìn đồng), đã nộp và chi xong.
[5] Về án phí:
Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bà Trần Thị H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, không phải hoàn trả tiền tạm ứng án phí do bà H thuộc trường hợp người cao tuổi theo quy định tại Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Ông Trần Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.657.000 đồng. Do ông T thuộc trường hợp có hoàn cảnh kinh tế khó khăn và xin giảm án phí nên được xem xét giảm 50% tiền án phí theo quy định tại Điều 13 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Ông T phải nộp 829.000 đồng (T6 trăm hai mươi chín nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 720.000 đồng (Bảy trăm hai mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002725 ngày 06/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười. Ông T còn phải nộp tiếp số tiền 109.000 đồng (Một trăm lẻ chín nghìn đồng).
Sung vào ngân sách nhà nước tiền tạm ứng án phí mà bà Trần Thị C đã nộp là 1.441.000 đồng (Một triệu bốn trăm bốn mươi mốt nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002724 ngày 06/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười.
Bà Trần Thị Kim L1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.312.000 đồng. Do bà L1 thuộc trường hợp có hoàn cảnh kinh tế khó khăn và xin giảm án phí nên được xem xét giảm 50% tiền án phí theo quy định tại Điều 13 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà L1 phải nộp 1.656.000 đồng (Một triệu sáu trăm năm mươi sáu nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 720.000 đồng (Bảy trăm hai mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002723 ngày 06/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười. Bà L1 còn phải nộp tiếp số tiền 936.000 đồng (Chín trăm ba mươi sáu nghìn đồng).
Bà Trần Ngọc A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.312.000 đồng. Do bà A thuộc trường hợp có hoàn cảnh kinh tế khó khăn và xin giảm án phí nên được xem xét giảm 50% tiền án phí theo quy định tại Điều 13 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà A phải nộp 1.656.000 đồng (Một triệu sáu trăm năm mươi sáu nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 720.000 đồng (Bảy trăm hai mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002722 ngày 06/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười. Bà A còn phải nộp tiếp số tiền 936.000 đồng (Chín trăm ba mươi sáu nghìn đồng).
Ông Trần Ngọc T1 phải chịu 1.600.000 đồng (Một triệu sáu trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.441.000 đồng (Một triệu bốn trăm bốn mươi mốt nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002721 ngày 06/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười. Ông T1 còn phải nộp tiếp số tiền 159.000 đồng (Một trăm năm mươi chín nghìn đồng).
Bà Trần Ngọc P phải chịu 3.311.000 đồng (Ba triệu ba trăm mười một nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.441.000 đồng (Một triệu bốn trăm bốn mươi mốt nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002720 ngày 06/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười. Bà P còn phải nộp tiếp số tiền 1.870.000 đồng (Một triệu tám trăm bảy mươi nghìn đồng).
Bà Trần Thị Ánh L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, không phải hoàn trả tiền tạm ứng án phí do bà L thuộc trường hợp hộ cận nghèo theo quy định tại Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Ông Trần Thái B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[7] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười là có căn cứ nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 5 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 91, Điều 96, Điều 147, Điều 192, Điều 217, Điều 218, Điều 227, Điều 228, Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 612 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Điều 26 của Luật Đất đai;
Căn cứ Điều 12, Điều 13, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị C về việc yêu cầu ông Trần Thái B chia thừa kế quyền sử dụng đất đối với thửa 305, tờ bản đồ số 4 (bản đồ 299), đất tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp do hộ ông Trần Thái B đứng tên.
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị H, ông Trần Văn T, bà Trần Thị Kim L1, bà Trần Thị Ánh L, bà Trần Ngọc A, bà Trần Ngọc P, ông Trần Ngọc T1 về việc yêu cầu ông Trần Thái B chia thừa kế quyền sử dụng đất đối với thửa 305, tờ bản đồ số 4 (bản đồ 299), đất tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp do hộ ông Trần Thái B đứng tên.
- Về chi phí tố tụng:
Bà Trần Thị H, ông Trần Văn T, bà Trần Thị C, bà Trần Thị Kim L1, bà Trần Thị Ánh L, bà Trần Ngọc A, bà Trần Ngọc P, ông Trần Ngọc T1 phải chịu chi phí tố tụng theo quy định tổng cộng là 10.420.000 đồng (Mười triệu bốn trăm hai mươi nghìn đồng), đã nộp và chi xong.
- Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bà Trần Thị H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, không phải hoàn trả tiền tạm ứng án phí do bà H thuộc trường hợp người cao tuổi theo quy định tại Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Ông Trần Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.657.000 đồng. Do ông T thuộc trường hợp có hoàn cảnh kinh tế khó khăn và xin giảm án phí nên được xem xét giảm 50% tiền án phí theo quy định tại Điều 13 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Ông T phải nộp 829.000 đồng (T6 trăm hai mươi chín nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 720.000 đồng (Bảy trăm hai mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002725 ngày 06/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười. Ông T còn phải nộp tiếp số tiền 109.000 đồng (Một trăm lẻ chín nghìn đồng).
Sung vào ngân sách nhà nước tiền tạm ứng án phí mà bà Trần Thị C đã nộp là 1.441.000 đồng (Một triệu bốn trăm bốn mươi mốt nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002724 ngày 06/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười.
Bà Trần Thị Kim L1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.312.000 đồng. Do bà L1 thuộc trường hợp có hoàn cảnh kinh tế khó khăn và xin giảm án phí nên được xem xét giảm 50% tiền án phí theo quy định tại Điều 13 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà L1 phải nộp 1.656.000 đồng (Một triệu sáu trăm năm mươi sáu nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 720.000 đồng (Bảy trăm hai mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002723 ngày 06/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười. Bà L1 còn phải nộp tiếp số tiền 936.000 đồng (Chín trăm ba mươi sáu nghìn đồng).
Bà Trần Ngọc A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.312.000 đồng. Do bà A thuộc trường hợp có hoàn cảnh kinh tế khó khăn và xin giảm án phí nên được xem xét giảm 50% tiền án phí theo quy định tại Điều 13 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà A phải nộp 1.656.000 đồng (Một triệu sáu trăm năm mươi sáu nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 720.000 đồng (Bảy trăm hai mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002722 ngày 06/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười. Bà A còn phải nộp tiếp số tiền 936.000 đồng (Chín trăm ba mươi sáu nghìn đồng).
Ông Trần Ngọc T1 phải chịu 1.600.000 đồng (Một triệu sáu trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.441.000 đồng (Một triệu bốn trăm bốn mươi mốt nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002721 ngày 06/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười. Ông T1 còn phải nộp tiếp số tiền 159.000 đồng (Một trăm năm mươi chín nghìn đồng).
Bà Trần Ngọc P phải chịu 3.311.000 đồng (Ba triệu ba trăm mười một nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.441.000 đồng (Một triệu bốn trăm bốn mươi mốt nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002720 ngày 06/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười. Bà P còn phải nộp tiếp số tiền 1.870.000 đồng (Một triệu tám trăm bảy mươi nghìn đồng).
Bà Trần Thị Ánh L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, không phải hoàn trả tiền tạm ứng án phí do bà L thuộc trường hợp hộ cận nghèo theo quy định tại Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Ông Trần Thái B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
- Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Quốc Thái |
Bản án số 16/2025/DS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
- Số bản án: 16/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
