|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 16/2025/DS-ST
Ngày 20 tháng 3 năm 2025
V/v“Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Thanh Quyên
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Thân Thị Tuyết Nhung
Bà Nguyễn Thị Thuỷ
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Đăng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang
Đại diện Viện kiểm sát thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Nguyệt - Kiểm sát viên
Trong ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 150/2022/TLST-DS ngày 18 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 02 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2025/QĐST-DS ngày 17 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
*Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP B (Nay là Ngân hàng TMCP L2)
Địa chỉ: LPBank Tower, số B, Trần Quang K, H, Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Quốc K1 – Tổng Giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh T – Giám đốc Ngân hàng TMCP L2 - Chi nhánh V. (Có mặt)
(Văn bản uỷ quyền số 2644/2025/QĐ-LPBank.QTRR ngày 27/02/2025)
Địa chỉ: Số A, đường T, phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang
*Bị đơn: Anh Nguyễn Việt L, sinh năm 1992 (Xin vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện V (N là tổ dân phố B, phường T, thị xã V), tỉnh Bắc Giang
Hiện đang chấp hành án phạt tù tại đội 55, phân trại 1, Trại giam N – C10 – Bộ C
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1972 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số nhà A, đường C, phường L (nay là phường T), thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ghi ngày 28/9/2022; đơn khởi kiện bổ sung ghi ngày 13/10/2022 và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn - Ngân hàng TMCP B (Nay là Ngân hàng TMCP L2 - sau đây viết tắt là Ngân hàng) do người đại diện theo uỷ quyền trình bày:
Ngày 01/09/2020, Ngân hàng có cho anh Nguyễn Việt L, sinh năm 1992, địa chỉ: Xóm G, T, huyện V (nay là tổ dân phố số G, phường T, thị xã V), tỉnh Bắc Giang vay số tiền 400.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng số HDTD3002020401; Mục đích vay: H vốn mua xe ô tô làm phương tiện đi lại; Thời hạn cho vay: 06 năm (72 tháng) từ ngày 04/9/2020 đến ngày 03/9/2026; Lãi suất cho vay trong hạn là 11.2%/01 năm, được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/01 lần; Lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn; lãi suất nợ lãi chậm trả bằng 10%; Kỳ hạn trả nợ gốc và lãi: hàng tháng; Tài sản bảo đảm: 01 xe ô tô con, nhãn hiệu TOYOTA, giấy chứng nhận đăng ký số: 060742, BKS: 98A-334.30, đăng ký ngày 19/08/2020, chủ sở hữu: Anh Nguyễn Việt L theo Hợp đồng bảo đảm tiền vay số: 300.244/2020/HĐTC ngày 01/09/2020. Khoản vay được giải ngân ngày 03/09/2020 theo Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 3002020401/01.
Quá trình vay, anh L vi phạm nghĩa vụ nên ngày 10/10/2022, Ngân hàng khởi kiện đến Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang yêu cầu anh Nguyễn Việt L có nghĩa vụ phải hoàn trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 22/09/2022 là 416.149.816 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm mười sáu triệu một trăm bốn mươi chín nghìn tám trăm mười sáu đồng), trong đó: Nợ gốc: 350.049.972 đồng; Nợ lãi: 56.267.741 đồng; Nợ lãi quá hạn: 9.832.103đồng
Ngày 26/12/2022, Ngân hàng có đơn tố giác anh Nguyễn Việt L đến cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B để xem xét việc anh Nguyễn Việt L không còn quản lý, sử dụng 01 xe ô tô con, nhãn hiệu Toyota, giấy chứng nhận đăng ký số: 060742, BKS: 98A-334.30, đăng ký ngày 19/08/2020 đang thế chấp tại Ngân hàng.
Ngày 19/4/2023, Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang đã tạm đình chỉ giải quyết vụ án để chờ kết quả giải quyết của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B. Ngày 13/02/2025, Toà án ra Quyết định tiếp tục giải quyết vụ án. Ngày 05/3/2025, Ngân hàng đã có đơn đề nghị rút một phần đơn khởi kiện, cụ thể rút yêu cầu khởi kiện đối với phần nghĩa vụ và việc xử lý tài sản của anh Nguyễn Việt L là xe ô tô theo Giấy đăng ký xe ô tô số 060742 do Phòng C1 Công an tỉnh B cấp ngày 19/8/2020 (đăng ký lần đầu 19/8/2020) đứng tên Nguyễn Việt L, tài sản được thế chấp tại Ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số công chứng 675/2020, Quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD do Công chứng viên của Văn phòng C2, tỉnh Bắc Giang chứng nhận ngày 01/9/2020. Nay Ngân hàng tiếp tục yêu cầu Toà án xem xét giải quyết:
Buộc anh Nguyễn Việt L phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng số HDTD3002020401 ngày 01/9/2020 và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 3002020401/01 ngày 03/9/2020 với tổng số tiền tạm tính đến ngày 17/03/2025 là: 183.556.488 đồng (Bằng chữ: Một trăm tám mươi ba triệu năm trăm năm mươi sáu nghìn bốn trăm tám mươi sáu đồng), trong đó: Nợ gốc: 0 đồng; Nợ lãi: 106.455.965 đồng; Nợ lãi quá hạn: 77.100.521 đồng và toàn bộ lãi, lãi quá hạn, phí phát sinh liên quan đến khoản vay sau ngày này đến thời điểm thanh toán xong toàn bộ khoản vay theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng.
Trong thời gian chưa thanh toán nợ, ông Nguyễn Việt L phải chịu lãi suất quá hạn đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng và các cam kết ký kết với Ngân hàng cho đến khi tất toán khoản vay.
*Quá trình tham gia tố tụng, bị đơn – Anh Nguyễn Việt L trình bày:
Ngày 01/9/2020 anh ký Hợp đồng tín dụng số HDTD3002020401 với Ngân hàng TMCP B – Chi nhánh B1. Ngày 16/11/2020, anh và Ngân hàng ký phụ lục hợp đồng số 01/HDTD3002020401. Hai bên thoả thuận như sau: Anh vay Ngân hàng số tiền 400.000.000đồng; Phương thức vay: từng lần; Mục đích vay: H vốn mua xe ô tô làm phương tiện đi lại (01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota, số loại VIOS G, loại xe ô tô con, màu sơn nâu vàng, số chỗ ngồi: 5; biển số đăng ký 98A- 334.30, giấy chứng nhận đăng ký số 060742); Thời hạn cho vay là: 72 tháng; Lãi suất cho vay đã được ghi cụ thể trong hợp đồng tín dụng số HDTD3002020401 ngày 01/9/2020 + Phụ lục hợp đồng số 01/HDTD3002020401; Kỳ hạn trả nợ gốc: Gốc trả hàng tháng; Kỳ hạn trả lãi: Lãi trả hàng tháng. Ngày 03/9/2020, Ngân hàng đã giải ngân cho anh vay số tiền 400.000.000 đồng (theo giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 3002020401/01 ngày 03/9/2020, thời hạn vay từ ngày 04/9/2020 đến 03/9/2026, lãi trả vào ngày 15 hàng tháng).
Để đảm bảo cho khoản vay nêu trên, anh thế chấp 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 300.244/2020/HĐTC ngày 01/9/2020. Việc thế chấp, ký hợp đồng thế chấp là hoàn toàn tự nguyện. Chiếc xe này thuộc quyền sở hữu của cá nhân anh.
Quá trình thực hiện Hợp đồng, anh đã thanh toán trả Ngân hàng được một phần tiền gốc, tiền lãi nhưng anh không nhớ chi tiết cụ thể. Ngân hàng xác định tính đến 22/9/2022, anh còn nợ Ngân hàng khoản tiền nợ gốc là 350.049.972đồng; nợ lãi: 56.267.741đồng; nợ lãi quá hạn: 9.832.103 đồng thì anh đồng ý và không có ý kiến gì.
Anh xác định khoản vay nêu trên là của cá nhân anh, không liên quan đến bất kỳ ai trong gia đình anh. Anh cũng xác nhận không có tranh chấp về Hợp đồng tín dụng, Phục lục hợp đồng, Hợp đồng thế chấp nêu trên. Toàn bộ chữ ký trong các văn bản, hợp đồng này là chữ ký của anh.
Chiếc xe ô tô anh đang thế chấp Ngân hàng, anh cho ông Nguyễn Văn S, địa chỉ: Số nhà A, đường C, phường L (nay là phường T), thành phố B, tỉnh Bắc Giang mượn từ khoảng đầu năm 2022. Khi cho ông S mượn, anh không thông báo cho Ngân hàng biết. Lý do cho ông S mượn xe là do ông S kinh doanh dịch vụ cho thuê ô tô tự lái. Ngoài thế chấp tài sản cho Ngân hàng như trên, anh không cầm cố, thế chấp, chuyển nhượng cho bất cứ cá nhân, tổ chức nào.
Quá trình Toà án giải quyết vụ án, anh đã tác động gia đình trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc 350.049.875 đồng vào ngày 05/3/2024, anh được biết Ngân hàng đã giải chấp tài sản thế chấp. Nay Ngân hàng rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền gốc và tài sản bảo đảm là 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota, biển kiểm soát 98A-334.30 thì anh đồng ý.
Đối với khoản tiền lãi còn lại anh chưa thanh toán, nay Ngân hàng tiếp tục yêu cầu anh phải trả thì anh nhất trí, tuy nhiên do anh đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam N nên đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật. Anh đề nghị Toà án xét xử vụ án vắng mặt anh.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Nguyễn Văn S được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông từ chối làm việc, không nộp cho Toà án văn bản ý kiến nào đối với nội dung vụ án.
Quá trình tiến hành tố tụng, ngày 18/11/2022, Toà án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota, số loại VIOS G, loại xe ô tô con, màu sơn nâu vàng, số chỗ ngồi: 5; biển số đăng ký 98A- 334.30, giấy chứng nhận đăng ký số 060742 mang tên Nguyễn Việt L nhưng không thẩm định được do anh L không mang xe đến.
Tại phiên toà: Đại diện theo uỷ quyền của Nguyên đơn đề nghị Toà án:
Buộc anh Nguyễn Việt L phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng số HDTD3002020401 ngày 01/9/2020 và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 3002020401/01 ngày 03/9/2020 với tổng số tiền tạm tính đến ngày 20/03/2025 là: 183.643.989đồng, trong đó tiền gốc: 0 đồng; lãi trong hạn là 106.455.965 đồng, lãi quá hạn là 77.188.024 đồng.
Trong thời gian chưa thanh toán nợ, anh Nguyễn Việt L phải chịu lãi suất quá hạn đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng và các cam kết ký kết với Ngân hàng cho đến khi tất toán khoản vay.
Ngân hàng tự nguyện rút yêu cầu đối với phần nghĩa vụ trả nợ gốc số tiền 350.049.085 đồng và rút yêu cầu đối với việc xử lý tài sản của anh Nguyễn Việt L là xe ô tô theo Giấy đăng ký xe ô tô số 060742 do Phòng C1 Công an tỉnh B cấp ngày 19/8/2020 ( đăng ký lần đầu 19/8/2020) đứng tên Nguyễn Việt L. Tài sản được thế chấp tại Ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số công chứng 675/2020, Quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD do Công chứng viên của Văn phòng C2, tỉnh Bắc Giang chứng nhận ngày 01/9/2020.
Về án phí: Ngân hàng tự nguyện chịu cả số tiền chi phí tố tụng 2.000.000 đồng đã nộp.
Về án phí: Ngân hàng đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được Hội đồng xét xử công bố lời khai. Đại diện theo uỷ quyền của Ngân hàng không có ý kiến gì về lời khai đó.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án và của Hội đồng xét xử, thư ký tại phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan từ khi thụ lý vụ án: Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 73 BLTTDS (vắng mặt tại phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt tại phiên toà).
Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm b khoản 1 điều 40; Điều 147; Điều 157; Điều 158; Điều 184; Điều 217; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463; Điều 466 của Bộ luật dân sự; Điều 8, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP L2.
Buộc anh Nguyễn Việt L thanh toán trả Ngân hàng TMCP L2 tổng số tiền tạm tính đến ngày 20/03/2025 là: 183.643.989đồng, trong đó tiền gốc: 0 đồng; tiền lãi là 106.455.965 đồng, lãi quá hạn là 77.188.024 đồng theo hợp đồng tín dụng đã ký.
Anh L1 còn tiếp tục phải thanh toán tiền lãi suất quá hạn đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng và các cam kết ký kết với Ngân hàng cho đến khi tất toán khoản vay.
- Đình chỉ yêu cầu đối với số tiền gốc 350.049.875 đồng và đình chỉ yêu cầu về việc xử lý tài sản bảo đảm là 01 xe ô tô theo Giấy đăng ký xe ô tô số 060742 do Phòng C1 Công an tỉnh B cấp ngày 19/8/2020 (đăng ký lần đầu 19/8/2020) mang tên Nguyễn Việt L.
- Về chi phí thẩm định: Ngân hàng tự nguyện chịu cả tiền chi phí thẩm định nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Anh Nguyễn Việt L phải chịu theo quy định của pháp luật. Hoàn trả Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi tiến hành nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Đơn khởi kiện của của Ngân hàng cùng các tài liệu, chứng cứ đã giao nộp cho Tòa án hợp lệ, đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về hình thức và nội dung đơn khởi kiện.
Ngân hàng TMCP B được đổi tên thành Ngân hàng TMCP L2 theo Nghị quyết về việc đổi tên của Ngân hàng số 1204/2024/NQ-HĐQT ngày 04/5/2024 và Quyết định về việc sửa đổi nội dung Giấy phép thành lập và hoạt động của Ngân hàng thương mại cổ phần B số 423/QĐ-TTGSNH2 ngày 15/7/2024 của Ngân hàng N1. Khoản vay của anh Nguyễn Việt L do Ngân hàng TMCP L2 tiếp tục yêu cầu Toà án giải quyết là đúng quy định pháp luật và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của Nguyên đơn trong vụ án.
[1.2]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án:
Ngân hàng khởi kiện yêu cầu anh Nguyễn Việt L thanh toán toàn bộ khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ đã ký nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Việt L có địa chỉ cư trú tại thị xã V, tỉnh Bắc Giang nhưng Hợp đồng tín dụng được giao kết và thực hiện tại Chi nhánh của nguyên đơn có địa chỉ đường L, phường H, thành phố B nên Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ngày 26/12/2022, Ngân hàng có đơn tố giác anh Nguyễn Việt L đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B để xem xét việc anh Nguyễn Việt L không còn quản lý, sử dụng 01 xe ô tô con, nhãn hiệu Toyota, giấy chứng nhận đăng ký số: 060742, BKS: 98A-334.30, đăng ký ngày 19/08/2020 đang thế chấp tại Ngân hàng.
Ngày 19/4/2023, Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang đã tạm đình chỉ giải quyết vụ án để chờ kết quả giải quyết của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đối với đơn tố giác của Ngân hàng. Ngày 13/02/2025, Toà án nhận được Quyết định không khởi tố vụ án số 3782/QĐ-ĐTTH ngày 13/11/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B xác định không có dấu hiệu tội phạm trong vụ án theo Đơn tố giác của Ngân hàng. Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục xem xét giải quyết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.3]. Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Tòa án đã tiến hành thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho các đương sự. Tuy nhiên, bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà lần thứ 2. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt đối với bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là phù hợp.
[2]. Về nội dung tranh chấp:
[2.1]. Về hợp đồng tín dụng: Căn cứ đơn khởi kiện, lời khai và các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, lời khai của bị đơn cho thấy: Giữa nguyên đơn là Ngân hàng TMCP L2 và bị đơn anh Nguyễn Việt L đã ký kết Hợp đồng tín dụng số HDTD3002020401 ngày 01/09/2020. Theo đó, anh Nguyễn Việt L vay số tiền 400.000.000 đồng; Mục đích vay: H vốn mua xe ô tô làm phương tiện đi lại; Thời hạn cho vay: 06 năm (72 tháng); Lãi suất cho vay trong hạn là 11.2%/01 năm, được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/01 lần; Lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn; lãi suất nợ lãi chậm trả bằng 10%; Kỳ hạn trả nợ gốc và lãi: hàng tháng; Tài sản bảo đảm: 01 xe ô tô con, nhãn hiệu Toyota, giấy chứng nhận đăng ký số: 060742, BKS: 98A-334.30, đăng ký ngày 19/08/2020, chủ sở hữu: Anh Nguyễn Việt L theo Hợp đồng bảo đảm tiền vay số: 300.244/2020/HĐTC ngày 01/09/2020. Khoản vay được giải ngân ngày 03/09/2020 theo Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 3002020401/01.
Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng, anh L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng khởi kiện đến Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang. Quá trình Toà án giải quyết vụ án, anh L trả cho Ngân hàng toàn bộ nợ gốc. Số tiền còn nợ lại theo Hợp đồng tín dụng tạm tính đến ngày 20/03/2025 là: 183.643.989 đồng, trong đó tiền lãi là 106.455.965 đồng, lãi quá hạn là 77.188.024 đồng. Bị đơn anh L nhất trí với số tiền Ngân hàng yêu cầu thanh toán và đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật. Nay Ngân hàng yêu cầu Toà án buộc anh Nguyễn Việt L phải có trách nhiệm trả số tiền nợ nêu trên, đồng thời yêu cầu anh L phải chịu lãi suất quá hạn đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng và các cam kết ký kết với Ngân hàng cho đến khi tất toán khoản vay, Hội đồng xét xử thấy yêu cầu của Ngân hàng đối với khoản tiền lãi là có căn cứ theo Điều 463; Điều 466 của Bộ luật dân sự, cần được chấp nhận.
[2.2]. Về tài sản thế chấp đảm bảo cho khoản vay:
Anh Nguyễn Việt L thế chấp cho Ngân hàng 01 xe ô tô con, nhãn hiệu Toyota, giấy chứng nhận đăng ký số: 060742, BKS: 98A-334.30, đăng ký ngày 19/08/2020, chủ sở hữu: Anh Nguyễn Việt L theo Hợp đồng bảo đảm tiền vay số: 300.244/2020/HĐTC ngày 01/09/2020. Quá trình Toà án tiến hành tố tụng xác định được xe ô tô này anh L cho ông Nguyễn Văn S mượn do ông S đang kinh doanh cho thuê xe tự lái. Toà án yêu cầu anh L đưa xe đến để xem xét thẩm định tài sản nhưng anh L không thực hiện.
Tuy nhiên, đến ngày 05/3/2024, anh L đã trả được toàn bộ tiền nợ gốc còn lại và được Ngân hàng giải chấp tài sản thế chấp. Ngân hàng đề nghị rút phần nghĩa vụ đối với số tiền gốc 350.049.875 đồng và rút yêu cầu về việc xử lý tài sản của anh Nguyễn Việt L là xe ô tô theo Giấy đăng ký xe ô tô số 060742 do Phòng C1 Công an tỉnh B cấp ngày 19/8/2020 (đăng ký lần đầu 19/8/2020) đứng tên Nguyễn Việt L theo hợp đồng thế chấp xe ô tô số công chứng 675/2020, Quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD do Công chứng viên của Văn phòng C2, tỉnh Bắc Giang chứng nhận ngày 01/9/2020. Việc rút một phần yêu cầu là hoàn toàn tự nguyện nên căn cứ Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự để đình chỉ giải quyết đối với số tiền gốc 350.049.875 đồng và đình chỉ giải quyết đối với việc xử lý tài sản bảo đảm.
[2.3]. Về chi phí tố tụng:
Ngân hàng tự nguyện chịu cả số tiền chi phí thẩm định 2.000.000 đồng. Xác nhận Ngân hàng đã nộp đủ số tiền chi phí thẩm định tài sản.
[2.4]. Về án phí: Căn cứ điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 2 điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên anh Nguyễn Việt L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm b khoản 1 điều 40; Điều 147; Điều 157; Điều 158; Điều 184; Điều 217; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 463; Điều 466 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ các Điều 90; Điều 91; Điều 95; Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng;
Căn cứ Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP L2.
Buộc anh Nguyễn Việt L phải thanh toán trả Ngân hàng TMCP L2 tổng số tiền lãi tạm tính đến ngày 20/03/2025 là: 183.643.989 đồng (một trăm tám mươi ba triệu sáu trăm bốn mươi ba nghìn chín trăm tám mươi chín đồng), trong đó tiền lãi là 106.455.965 đồng (một trăm linh sáu triệu bốn trăm năm mươi lăm nghìn chín trăm sáu mươi lăm đồng), lãi quá hạn là 77.188.024 đồng (bảy mươi bảy triệu một trăm tám mươi tám nghìn không trăm hai mươi bốn đồng) theo Hợp đồng tín dụng số HDTD3002020401 ngày 01/9/2020 và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 3002020401/01 ngày 03/9/2020.
Kể từ ngày 21/3/2025, anh Nguyễn Việt L còn tiếp tục phải chịu lãi suất quá hạn đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng HDTD3002020401 ngày 01/9/2020 và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 3002020401/01 ngày 03/9/2020 với Ngân hàng cho đến khi tất toán khoản vay.
- Đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về việc yêu cầu anh Nguyễn Việt L thanh toán trả số tiền gốc là 350.049.875 đồng (Ba trăm năm mươi triệu không trăm bốn mươi chín nghìn tám trăm bẩy lăm đồng).
Đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về việc yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm của anh Nguyễn Việt L là xe ô tô theo Giấy đăng ký xe ô tô số 060742 do Phòng C1 Công an tỉnh B cấp ngày 19/8/2020 (đăng ký lần đầu 19/8/2020) đứng tên Nguyễn Việt L. Tài sản được thế chấp tại Ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số công chứng 675/2020, Quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD do Công chứng viên của Văn phòng C2, tỉnh Bắc Giang chứng nhận ngày 01/9/2020.
- Về chi phí tố tụng: Ngân hàng tự nguyện chịu cả chi phí thẩm định 2.000.000 đồng. Xác nhận Ngân hàng đã nộp đủ chi phí thẩm định.
- Về án phí:
- - Anh Nguyễn Việt L phải chịu 9.182.199 đồng (chín triệu một trăm tám mươi hai nghìn một trăm chín mươi chín đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- - Hoàn trả Ngân hàng TMCP L2 số tiền tạm ứng án phí đã nộp 10.323.000 đồng (mười triệu ba trăm hai mươi ba nghìn đồng) tại biên lai thu số 0001791 ngày 18/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: VKSND TP Bắc Giang; TAND -VKSND tỉnh Bắc Giang; Chi cục THADS TP Bắc Giang; - Các đương sự; - Lưu HS, VP. |
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lương Thị Thanh Quyên |
Bản án số 16/2025/DS-ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 16/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NH khởi kiện tranh chấp HĐTD với anh Nguyễn Việt L
