TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17- LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 16/2025/DS-ST Ngày: 19-8-2025 v/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17- LÂM ĐỒNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thái
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Đức Sơn;
- Bà Lê Hoàng Mỹ Dung.
-Thư ký phiên tòa: Nguyễn Thị Kim Hà- Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 17- Lâm Đồng.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17- Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Tốt- Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2025, tại phòng xử án Tòa án nhân dân Khu vực 17- Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 444/2024/TLST- DS, ngày 12/12/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2025/QĐXXST-DS ngày 29/7/2025; giữa:
- Nguyên đơn: Bà Phan Thị T, sinh năm 1949. Có mặt
- Bị đơn: Ông Đồng Văn T1, sinh năm 1972. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Địa chỉ: Số C đường số F, thôn V, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Địa chỉ: Đường số D, tổ G, thôn V, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng.
+Bà Đồng Thị L, sinh năm 1976. Có mặt.
Địa chỉ: Số H đường số C, thôn A, xã T, tỉnh Lâm Đồng.
+Bà Trần Thị H, sinh năm 1988. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt
Địa chỉ: Số C đường số F, thôn V, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 30/9/2024, Biên bản không tiến hành hòa giải được, bản khai cùng các tài liệu, chứng cứ kèm theo, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa nguyên đơn bà Phan Thị T trình bày: Bà Phan Thị T và ông Đồng Văn Đ là vợ chồng, ly hôn vào năm 1985. Khi ly hôn ông Đ nuôi 02 con là Đồng Văn T1, 12 tuổi và Đồng Văn H1, 10 tuổi; còn bà T nuôi con Đồng Thị L, 8 tuổi. Về tài sản chung không có. Sau khi ly hôn bà T đưa con là Đồng Thị L đến tá túc tại Trạm y tế xã V, huyện Đ. Đến năm 1988 bà T và ông Trần Văn N có 01 con chung là Trần Thị H. Do bà T là thương binh nên bà T làm đơn xin và được UBND xã V, huyện Đ cấp cho 01 lô đất để mẹ con bà T làm nhà ở, tại thôn F, xã V, đất giáp với đường lộ (nay là đường Đ) vào năm 1986 hoặc 1987. Đến năm 1994 bà T chuyển nhượng lại lô đất giáp đường ĐT 720 do UBND xã V, lại cho ông Trần Xuân K (hiện đã chết), với giá 5.000.000 đồng. Bà T dùng tiền bán đất cho ông K và tiền dành dụm được từ tiền trợ cấp thương binh, tiền lao động được, để mua lại 01 lô đất của bà Phạm Thị L1 (hiện đã chết) vào năm 1996, ở khu vực đường số F, xã V để làm nhà ở từ đó cho đến nay. Năm 1997 Nhà nước cấp quyền sử dụng thửa đất này cho hộ bà T thuộc thửa đất số 48, tờ bản đồ 16, diện tích 1.010m2, đến ngày 25/8/2020 thửa đất được chỉnh lý thành thửa 290, tờ bản đồ 15, diện tích theo số đo địa chính là 1.089,2m2, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sô N 919887, tại thôn D, xã V (gọi tắt là thửa đất 290). Vào thời điểm năm 1997, hộ gia đình bà T gồm có 03 người: bà T, 02 người con của bà T là bà L1 và bà H. Đối với ông Đồng Văn T1 sinh sống cùng với cha là ông Đồng Văn Đ. Năm 1993 ông T1 đi nghĩa vụ quân sự, năm 1995 ông T1 xuất ngủ về địa phương, sau đó cưới vợ ra ở riêng. Trong năm 1997 ông T1 cũng được Nhà nước cấp quyền sử dụng đất. Do đó thửa đất 290, tờ bản đồ số 15, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N 919887, thì ông Đồng Văn T1 không có liên quan, ông T1 cũng không đóng góp tiền bạc, công sức gì để tạo lập thửa đất này. Tuy nhiên, khi bà T làm các thủ tục tách thửa tặng cho các con, cơ quan làm thủ tục yêu cầu các con của bà T phải ký vào các giấy tờ, thì ông T1 tranh chấp không chịu ký tên vào các giao dịch liên quan đến thửa đất. Nay bà T yêu cầu Tòa án tuyên bố Thửa đất 290, tờ bản đồ số 15, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sô N 919887 thuộc quyền sử dụng của bà T, bà L1 và bà H; để bà T tiến hành các giao dịch về thửa đất theo quy định của pháp luật.
Chứng cứ do nguyên đơn đưa ra: 01 Giấy sang nhượng đất giữa bên chuyển nhượng là bà Phan Thị T và bên nhận Chuyển nhượng ông Trần Xuân K, giấy sang nhượng đất được UBND xã V ký chứng thực ngày 03/10/1994; 01 trích sao quyết định công nhận thuận tình ly hôn, ngày 06/02/1985; Công văn số 93/CV-CAVH ngày 29/8/2024 của Công an xã V.
-Trong quá trình tố tụng bị đơn ông Đồng Văn T1 chỉ đến Tòa án vào ngày 25/02/2025 để làm bản khai và tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tuy nhiên trong lần tham gia này ông T1 ghi bản khai có nội dung như sau: Do ông T1 không được tham gia trong các lần giao dịch mua bán đất giữa bà T và bên mua, nên ông T1 không đồng ý ký giấy tờ. Còn trong biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; ông T1 có ý kiến: Không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; không có yêu cầu phản tố, nhưng ông T1 không ký vào biên bản. Khi Tòa án lập Biên bản hòa giải, yêu cầu ông T1 trình bày ý kiến của minh về những yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thì ông T1 tự động bỏ về và không tham gia tố tụng. Tại phiên tòa hôm nay ông T1 nêu lý do không đồng ý ký các giấy tờ là do bà T bán đất, cho đất không cho ông biết. Từ khi cha, mẹ ly hôn ông Trường học hết cấp 2 rồi tự đi làm nuôi sống bản thân; sau đó đi nghĩa vụ quân sự, về lại địa phương lấy vợ làm nhà ở riêng, nên không đóng góp gì cho bà T. Nếu bà T không cho ông T1 biết về việc quyết định đến đất, thì từ nay về sau ông T1 không có trách nhiệm gì đối với bà T.
Ý kiến của bà Đồng Thị L: Thửa đất hiện đang có tranh chấp là do mẹ của bà L là bà T mua của bà Phạm Thị L1. Đến năm 1997 Nhà nước cấp Giấy chứng nhận thửa đất cho bà T, theo thửa đất 48, tờ bản đồ 16, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N 919887; thời điểm đó chỉ có 03 mẹ con của bà L1 là: Bà T, bà L1 và bà H được quyền sử dụng thửa đất này. Còn ông T1 và ông H1 ở với cha là ông Đ, nên không có quyền sử dụng đất này. Bà L1 yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng thửa đất 48, tời bản đồ 16 (đã chỉnh sửa thành thửa 290, tờ bản đồ 15), Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N 919887 thuộc quyền sử dụng của bà T, bà L1 và bà H.
Ý kiến của bà Trần Thị H: Từ khi bà H sinh ra ở cùng mẹ là bà Phan Thị T cho đến nay, trên thửa đất 48, tờ bản đồ 16, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất N 919887, tại thôn D, xã V. Trong gia đình chỉ có 03 người là bà T, bà L1 và bà H, ngoài ra không có người nào khác. Còn ông T1, ông H1 là anh của bà H, nhưng khi bà T và ông Đ ly hôn vào năm 1985, thì ông T1, ông H1 sống với cha là ông Đ. Ông T1 đi nghĩa vụ vào năm 1993, đến năm 1995 thì về địa phương xã V, sau đó lấy vợ ở riêng. Thời điểm năm 1997, ông T1 cũng được Nhà nước cấp quyền sử dụng đất. Nay bà H yêu cầu Tòa án xác định quyền sử dụng thửa đất 290 là của bà T, bà L1 và bà H.
Ý kiến của người biết sự việc ông Trần Đức N1, có nội dung: Ông N1 quen biết với gia đình bà T từ lâu. Vào khoảng năm 1990 đến 1995 bà T có bán cho cha ông N1 là ông Trần Xuân K 01 mảnh đất, đất chưa cấp quyền sử dụng, khi mua bán hai bên có viết giấy tay (ông N1 sẽ cung cấp bản sao giấy chuyển nhượng đất này cho bà T). Khi Nhà nước làm thủ tục cấp quyền sử dụng đất này, thì cha ông N1 cho ông N1 đứng tên quyền sử dụng và ông N1 sử dụng đất này từ đó cho đến nay. Từ khi bà T và ông Đ ly hôn, thì ông T1 và ông H1 sống với cha là ông Đ; còn người con gái sống với bà T tại Trạm xá xã V. Bà T bán mảnh đất ở đường lớn cho ông K, để lấy tiền mua mảnh đất ở phía trong làm nhà ở cho đến nay.
Qua định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản ngày 25/6/2025, xác định diện tích đất tranh chấp như Mảnh chỉnh lý thửa đất, thửa đất số 290, tờ bản đồ 15(236398-7), diện tích 1.89,2m2. Được định giá là 638.190.000 đồng, ngoài ra trên đất còn có nhà của bà T, nhà của bà H.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
Phần thủ tục: Thẩm phán thụ lý vụ án; Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định. Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng quy định.
Phần nội dung: Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát như Bài phát biểu được lưu trong hồ sơ vụ án. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của hộ bà Phan Thị T, gồm có: Bà T, bà Đồng Thị L và bà Đồng Thị H2.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về phần thủ tục:
[1.1]. Theo Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15, ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XV, thì từ ngày 01/7/2025, Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận được thành lập là Tòa án nhân dân khu vực 17- Lâm Đồng.
[1.2]. Khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền thụ lý giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 17- Lâm Đồng, theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật sửa đổi bổ sung một số Điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp và người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án (gọi tắt là Luật số 85).
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp, áp dụng pháp luật để giải quyết quan hệ tranh chấp: Căn cứ đơn khởi kiện, chứng cứ kèm theo, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp: Tranh chấp quyền sử dụng đất. Quyền sử dụng đất đang tranh chấp được Nhà nước cấp năm 1997, nên áp dụng Luật Đất đai năm 1993 và Bộ luật Dân sự năm 1995 để giải quyết.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là là công nhận quyền sử dụng thửa đất 48, tờ bản đồ số 16, diện tích 1.010m2, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N 919887, do UBND huyện Đ cấp cho hộ bà Phan Thị T ngày 10/12/1997. Ngày 25/8/2020 thửa đất được điều chỉnh thành thửa 290, tờ bản đồ số 15, diện tích 1.089,2m2 thuộc quyền sử dụng của hộ bà Phan Thị T gồm có 03 người: Bà Phan Thị T, bà Đồng Thị L và bà Trần Thị H là có căn cứ pháp luật.
[3.1].Về nguồn gốc thửa đất, theo bà T khai thửa đất 290 là do bà T nhận chuyển nhượng từ bà Phạm Thị L1 (đã chết) vào năm 1996. Nguồn tiền để nhận chuyển nhượng thửa đất 290 là do bà T chuyển nhượng lô đất được UBND xã V cấp cho bà T, sau khi bà T ly hôn với ông Đ. Lời khai này của bà T là phù hợp với chứng cứ: Giấy sang nhượng đất giữa bên chuyển nhượng là bà Phan Thị T và bên nhận chuyển nhượng là ông Trần Xuân K, đã được UBND xã V xác nhận ngày 03/10/1994 và Biên bản lấy lời khai của ông Trần Đức N1 (con ông K) vào ngày 16/6/2025.
[3.2]. Bà T, bà L1 và bà H đều khai, hộ khẩu trong hộ bà T vào năm 1997 chỉ có bà T và 02 người con của bà T là bà Đồng Thị L và bà Trần Thị H; còn ông Đồng Văn T1 và ông Đồng Văn H1 mặc dù là con của bà T, nhưng từ khi ly hôn vào năm 1985, thì ông T1, ông H1 sống với ông Đ. Điều này là phù hợp với Trích lục quyết định công nhận thuận tình ly hôn của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, ngày 06/02/1985; trong Trích lục quyết định công nhận thuận tình ly hôn này, thể hiện: Tòa án công nhận việc thuận tình ly hôn giữa bà T và ông Đ. Về con cái: Bà T nuôi con là Đồng Thị L; còn ông Đ nuôi con Đồng Văn T1 và Đồng Văn H1. Về tài sản: Không có gì. Ngoài ra giữa bà T và ông Đ không có quyết định thay đổi việc nuôi con nào khác. Như vậy, sau khi ly hôn ông T1 sống với cha là ông Đ, chứ không sống cùng bà T. Do đó, khi nhà nước cấp quyền sử dụng thửa đất 290 cho hộ bà T, thì hộ bà T chỉ có bà T, bà L và bà H.
[4]. Từ phân tích nhận định trên xác định quyền sử dụng thửa đất 290 là của bà Phan Thị T, bà Đồng Thị L và bà Trần Thị H, ngoài ra không còn ai khác.
[5] Về án phí và chi phí tố tụng khác: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Về chi phí định giá tài sản bà T đồng ý chịu toàn bộ, không yêu cầu ông T1 trả. Việc tự nguyện này của bà T là phù hợp pháp luật nên chấp nhận.
[6] Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật số 85; Điều 3, 5, 73 Luật Đất đai năm 1993; Điều 12, khoản 1 Điều 13, Điều 116, 118 và Điều 690 Bộ luật Dân sự năm 1995; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Tuyên bố thửa đất số 48, tờ bản đồ số 16, diện tích 1.010m2, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N 919887, do UBND huyện Đ, tỉnh Bình Thuận (nay là xã Đ, tỉnh Lâm Đồng) cấp cho hộ bà Phan Thị T ngày 10/12/1997. Ngày 25/8/2020 thửa đất được điều chỉnh thành thửa 290, tờ bản đồ số 15 (236398-7), diện tích 1.089,2m2; có địa chỉ tại thôn V, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng thuộc quyền sử dụng của hộ bà Phan Thị T gồm có 03 người: Bà Phan Thị T, bà Đồng Thị L và bà Trần Thị H.
- Về án phí và chi phí định giá tài sản:
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án: 19/8/2025; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản án, để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
- Trường hợp bản án thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
(Kèm theo Mảnh chỉnh lý thửa đất: Thửa đất số 290,tờ bản đồ số (236398-7), do Chi nhánh Văn phòng Đ1 (nay là Chi nhánh Văn phòng Đ1), ký duyệt ngày 8/3/2024.
Về án phí: Ông Đồng Văn T1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Về chi phí định giá tài sản: Bà Phan Thị T đồng ý chiu chi phí định giá tài sản là 1.800.000 đồng, số tiền này bà T đã chi tạm ứng.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Thái |
Bản án số 16/2025/DS-ST ngày 19/08/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17- LÂM ĐỒNG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 16/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/08/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17- LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khi nhà nước cấp QSD đất cho hộ bà Tiến, thì không có tên ông Trường trong hộ. Tuy nhiên khi bà Tiến thực hiện những quyền của người sử dụng đất thì ông Trường không đồng ý. Do đó bà Tiến khởi kiện
