|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 16/2025/DS-ST Ngày 18 tháng 6 năm 2025. V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ |
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán: Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Việt Giang.
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Chí Hùng.
- Bà Nguyễn Thị Kim Hoa.
- - Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Việt Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Trần Lại Khánh Chi - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 56/2024/TLST-DS ngày 14 tháng 11 năm 2024 về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐST-DS ngày 04 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2025/QĐST-DS ngày 24 tháng 4 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 12/2025/QĐST-DS ngày 22 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q (V1);
Địa chỉ: Tầng A (Tầng trệt) và tầng 2 Toà nhà Sailing Tower, số A P, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V - Chức vụ: Tổng giám đốc.
Đại diện theo uỷ quyền: Ông Hoàng Đình H - Giám đốc THN TT và XLN vùng (Theo Giấy uỷ quyền số 197845.24 ngày 18/9/2024)
Người được uỷ quyền của ông Hoàng Đình H:
- Ông Nguyễn Duy K - Chức vụ: Cán bộ Ngân hàng TMCP Q. (Có mặt).
- Bà Trần Thùy P - Chức vụ: Cán bộ Ngân hàng TMCP Q. (Vắng mặt).
- Ông Chu Văn T - Chức vụ: Cán bộ Ngân hàng TMCP Q. (Vắng mặt).
Đều có địa chỉ: Tầng D, Tòa nhà C, số D T, Đ, Hà Nội. (Theo Giấy uỷ quyền số 015011.25 ngày 17/01/2025)
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1961. (Vắng mặt)
1
Địa chỉ: Khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, các lời khai tại Tòa án và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng TMCP Q (V1) - V1 ký với bà Nguyễn Thị N Hợp đồng tín dụng số [...].23 ngày 13/12/2023 với nội dung: Số tiền giải ngân: 487.000.000 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm tám mươi bảy triệu đồng); Mục đích giải ngân: Thanh toán mua 01 xe ô tô nhãn hiệu Kia Carens; Thời hạn vay: 84 tháng từ ngày 14/12/2023 đến ngày 13/12/2030;
Lãi suất tại thời điểm giải ngân: 8,50%/năm. Lãi suất này là lãi suất ưu đãi (so với lãi suất thông thường là 15%/năm) và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản vay. Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 3 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở cộng biên độ 4,10%/năm. Thông tin về Lãi suất cơ sở tại từng thời kỳ được thông báo công khai trên website của V1 và/hoặc theo hình thức thông báo khác do V1 quyết định trong từng thời kỳ;
Hoàn trả khoản vay gốc: Hàng tháng vào ngày 30. Từ ngày 30/01/2024 đến 30/11/2030 với số tiền là 5,797,000 VNĐ, dư nợ gốc còn lại trả vào cuối kỳ; Hoàn trả lãi: Hàng tháng vào ngày 30. Trả phí theo quy định của V1 từng thời kỳ; Trả phí: theo quy định của V1 từng thời kỳ; Lãi quá hạn bằng 150 % lãi trong hạn. V1 đã giải ngân cho bà Nguyễn Thị N theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số [...].23 ngày 13/12/2023 với số tiền 487.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với Hợp đồng tín dụng.
Ngày 14/12/2023, bà Nguyễn Thị N đăng ký phát hành thẻ tín dụng quốc tế tại V1, hạn mức là 48.000.000 đồng, mục đích sử dụng: tiêu dùng. Căn cứ đơn đề nghị của bà Nguyễn Thị N, ngày 14/12/2023 Ngân hàng TMCP Q (V1) – V1 đã chấp thuận và phát hành cho bà Nguyễn Thị N được sử dụng thẻ tín dụng tại VIB với hạn mức phê duyệt là: 48.000.000 đồng.
Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Thị N đã vi phạm nội dung thỏa thuận tại HĐTD, HĐTC, hiện khoản vay đã quá hạn thanh toán từ ngày 30/05/2024 và đang xếp loại nợ nhóm 03 là nợ xấu theo quy định tại Điều 10 Thông tư số 11/2021/TT-NHNN của Ngân hàng N1. Tạm tính đến ngày 10/10/2024, Bà Nguyễn Thị N đã thanh toán cho V1 số tiền là 49.608.750 đồng (trong đó: gốc là 33.188.000 đồng, lãi là 16.420.750 đồng).
- Tạm tính đến ngày 10/10/2024, bà Nguyễn Thị N còn nợ Ngân hàng TMCP Q số tiền là: 519.210.189 đồng (Bằng chữ: Năm trăm mười chín triệu, hai trăm mười nghìn, một trăm tám mươi chín đồng), trong đó gồm có: Dư nợ theo hợp đồng tín dụng số [...].23 ngày 13/12/2023 là 471.011.203 đồng, trong đó: nợ gốc là: 453.812.000 đồng, nợ lãi là: 16.222.876 đồng, nợ lãi quá hạn là: 976.327 đồng; Dư nợ khoản vay thẻ tín dụng theo đơn phát hành thẻ tín dụng đã ký ngày 14/12/2023 là 48,198,986 đồng, trong đó: nợ gốc là: 37.411.873 đồng, nợ lãi là: 10.787.113 đồng.
2
Biện pháp bảo đảm tiền vay: 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA, Số loại CARENS, Biển số đăng ký: 19A-624.62 đăng ký tên chủ xe Nguyễn Thị N theo Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 0026940.23 ngày 13/12/2023.
Tại phiên tòa, Ngân hàng TMCP Q đề nghị Tòa án buộc bà N phải trả cho Ngân hàng TMCP Q tổng số tiền gốc và lãi theo Hợp đồng tín dụng số [...].23 đã ký kết ngày 13/12/2023 tính đến ngày xét xử 18/6/2025 tổng số tiền là 522.203.825 đồng, trong đó số tiền gốc là 453,812,000 đồng, nợ lãi trong hạn là: 42.959.993 đồng, nợ lãi quá hạn là: 25.431.832 đồng.
Buộc bà Nguyễn Thị N phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Q khoản vay thẻ tín dụng tính đến ngày xét xử 18/6/2025 tổng số tiền là 77.385.418 đồng, trong đó số tiền gốc là 37.411.873đ đồng, nợ lãi là: 15.608.103 đồng, nợ phí là: 24.365.442 đồng.
Trong trường hợp bà Nguyễn Thị N không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Q, đề nghị Tòa án tuyên Ngân hàng TMCP Q có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm xe ô tô nhãn hiệu KIA, Số loại CARENS, Biển số đăng ký: 19A-624.62 đăng ký tên chủ xe Nguyễn Thị N.
Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho bên vay vốn với V1. Trường hợp nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết nợ thì bên vay vốn vẫn phải có nghĩa vụ trả hết nợ còn lại cho V1.
Ý kiến của bị đơn:
Tại bản tự khai ngày 08/01/2025; biên bản lấy lời khai ngày 16/01/2025 bà N trình bày: Bà và ông Đinh Văn T1 (đã chết năm 2022) là vợ chồng, bà và ông T1 có 02 người con: Con trai là Đinh Văn T2, sinh năm 1983, HKTT: Khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ và con gái là Đinh Thị Kim T3 sinh năm 1986. Anh T2 có vợ là chị Nghiêm Thị H1, sinh năm, 1987. HKTT: ở G thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Hiện nay chị H1 đang thuê trọ SN 10, khu T, phường H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Nay ngân hàng TMCP Q khởi kiện yêu cầu bà trả số tiền gốc là 453.812.000đ và tiền lãi là 16.222.876đ, tiền lãi quá hạn là 976.327đ theo Hợp đồng tín dụng và số tiền khoản vay thẻ tín dụng là 48.198.986đ trong đó nợ gốc là 37.411.873đ, nợ lãi là 10.787.113đ thì bà có quan điểm như sau: Chị Nghiêm Thị H1 là vợ anh T2 đưa bà đến ngân hàng TMCP Q để ký Hợp đồng vay tiền. Bà có ký, ghi rõ họ tên và điểm chỉ vào các Hợp đồng tín dụng ngày 13/12/2023 và Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải ngày 13/12/2023 để vay tiền nhưng cụ thể bao nhiêu tiền bà không nắm được. Ngoài ra bà có ký 1 Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng, cụ thể bao nhiêu bà không nắm được. Tổng số tiền vay các khoản trên là bao nhiêu thì bà không được cầm tiền bà chỉ ký vào các Hợp đồng. Từ khi vay đến nay chị H1 đã trả bao nhiêu tiền gốc và tiền lãi thì bà không nắm được, đến khi chị H1 không trả gốc và lãi cho ngân hàng thì ngân hàng mới đến để đòi bà. Hiện nay chiếc xe KIA, BSĐK: 19A-624.62 chị Nghiêm Thị H1 đang quản lý sử dụng. Nay ngân hàng TMCP Q khởi kiện yêu cầu bà trả các khoản vay theo các hợp đồng tổng số tiền gốc và lãi
3
519.210.189đ thì bà đề nghị Tòa án xử lý tài sản thế chấp là chiếc xe ô tô KIA, Biển số đăng ký: 19A-624.62 để trả nợ cho ngân hàng theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh.
Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 147, Điều 157, khoản 2 Điều 227, Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 280, Điều 317, Điều 318, Điều 320, Điều 323, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q (V1). Buộc bà Nguyễn Thị N phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Q theo Hợp đồng tín dụng số [...].23 đã ký kết ngày 13/12/2023 tính đến ngày xét xử số tiền gốc là 453,812,000 đồng và nợ lãi trong hạn, nợ lãi quá hạn tính đến ngày xét xử theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bà Nguyễn Thị N không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng thì Ngân hàng TMCP Q có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là xe ô tô nhãn hiệu KIA, Số loại CARENS, BSĐK: 19A-624.62 đăng ký tên chủ xe Nguyễn Thị N.
Buộc bà Nguyễn Thị N phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Q dư nợ khoản vay thẻ tín dụng theo đơn phát hành thẻ tín dụng đã ký ngày 14/12/2023 tính đến ngày xét xử số tiền gốc là 37.411.873đ đồng và nợ lãi, nợ phí tính đến ngày xét xử theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị N được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại cho Ngân hàng TMCP Q số tiền 12.300.000đ (Mười hai triệu ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí ngày 0001386 ngày 14/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.
- Về lệ phí: Ngân hàng TMCP Q tự nguyện chịu số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét ý kiến của Kiểm sát viên, của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Theo yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q (V1) khởi kiện bà Nguyễn Thị N, địa chỉ: Khu A, xã P, huyện
4
P, tỉnh Phú Thọ về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng. Do đó xác định đây là “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Xét Hợp đồng tín dụng số [...].23 đã ký kết ngày 13/12/2023 giữa Ngân hàng TMCP Q với bà Nguyễn Thị N, địa chỉ: Khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ, thì bà N có vay của ngân hàng Q số tiền 487.000.000đ, mục đích vay để mua 01 xe ô tô nhãn hiệu Kia Carens; Thời hạn vay 84 tháng từ ngày 14/12/2023 đến ngày 13/12/2030; Lãi suất tại thời điểm ký hợp đồng là 8,50%/năm. Lãi suất này là lãi suất ưu đãi (so với lãi suất thông thường là 15%/năm) và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản vay. Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 3 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở cộng biên độ 4,10%/năm. Thông tin về Lãi suất cơ sở tại từng thời kỳ được thông báo công khai trên website của V1 và/hoặc theo hình thức thông báo khác do V1 quyết định trong từng thời kỳ. Hoàn trả khoản vay gốc: Hàng tháng vào ngày 30. Từ ngày 30/01/2024 đến 30/11/2030 với số tiền là 5,797,000 VNĐ, dư nợ gốc còn lại trả vào cuối kỳ; Hoàn trả lãi: Hàng tháng vào ngày 30. Trả phí theo quy định của V1 từng thời kỳ; Trả phí: theo quy định của V1 từng thời kỳ; Lãi quá hạn bằng 150 % lãi trong hạn.
Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Thị N đã vi phạm nội dung thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp, hiện khoản vay theo hợp đồng tín dụng đã quá hạn thanh toán từ ngày 30/05/2024 và đang xếp loại nợ nhóm 03 là nợ xấu. Tính đến ngày 18/6/2025 bà N còn nợ tổng số tiền là 522.203.825 đồng, trong đó số tiền gốc là 453,812,000 đồng, nợ lãi trong hạn là: 42.959.993 đồng, nợ lãi quá hạn là: 25.431.832 đồng.
Đối với khoản vay thẻ tín dụng theo đơn phát hành thẻ tín dụng đã ký ngày 14/12/2023. Căn cứ đơn đề nghị của bà Nguyễn Thị N, ngày 14/12/2023 Ngân hàng TMCP Q (V1) - V1 đã chấp thuận và phát hành cho bà Nguyễn Thị N được sử dụng thẻ tín dụng tại VIB với hạn mức phê duyệt là: 48.000.000 đồng. Dư nợ khoản vay thẻ tín dụng theo đơn phát hành thẻ tín dụng đã ký ngày 14/12/2023 tính đến ngày xét xử 18/6/2025 tổng số tiền là 77.385.418 đồng, trong đó số tiền gốc là 37.411.873đ đồng, nợ lãi là 15.608.103 đồng, nợ phí là: 24.365.442 đồng.
Nay Ngân hàng đề nghị Tòa án buộc bà Nguyễn Thị N phải trả cho ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng số [...].23 đã ký kết ngày 13/12/2023 tính đến ngày xét xử 18/6/2025 tổng số tiền là 522.203.825 đồng, trong đó số tiền gốc là 453,812,000 đồng, nợ lãi trong hạn là: 42.959.993 đồng, nợ lãi quá hạn là: 25.431.832 đồng và phải trả cho ngân hàng khoản dư nợ thẻ tín dụng tính đến ngày xét xử 18/6/2025 tổng số tiền là 77.385.418 đồng, trong đó số tiền gốc là 37.411.873đ đồng, nợ lãi là 15.608.103 đồng, nợ phí là: 24.365.442 đồng.
Bị đơn bà Nguyễn Thị N cũng thừa nhận do chị Nghiêm Thị H1 (con dâu bà N) đưa bà đến ngân hàng TMCP Q để ký Hợp đồng vay tiền. Bà N có ký, ghi rõ họ
5
tên và điểm chỉ vào các Hợp đồng tín dụng ngày 13/12/2023 và Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải ngày 13/12/2023 để vay tiền nhưng cụ thể bao nhiêu tiền bà không nắm được. Ngoài ra bà N có ký 1 Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng, cụ thể bao nhiêu bà không nắm được. Tổng số tiền vay các khoản trên là bao nhiêu thì bà không được cầm tiền bà chỉ ký vào các Hợp đồng. Từ khi vay đến nay chị H1 đã trả bao nhiêu tiền gốc và tiền lãi thì bà không nắm được, đến khi chị H1 không trả gốc và lãi cho ngân hàng thì ngân hàng mới đến để đòi bà. Bà đề nghị Tòa án xử lý tài sản thế chấp là chiếc xe ô tô KIA, BSĐK: 19A-624.62 để trả nợ cho ngân hàng theo quy định của pháp luật.
Đối với với khoản vay thẻ tín dụng theo đơn phát hành thẻ tín dụng đã ký ngày 14/12/2023. Bà N thừa nhận có ký Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng, cụ thể bao nhiêu bà không nắm được. Nay bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Hội đồng xét xử xét thấy các bên tham gia hợp đồng hoàn toàn tự nguyện, nội dung và hình thức hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do các đương sự giao nộp thì quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng bà Nguyễn Thị N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, bà N đề nghị đề nghị Tòa án xử lý tài sản thế chấp là chiếc xe ô tô KIA, Biển số đăng ký: 19A-624.62 để trả nợ cho ngân hàng theo quy định của pháp luật. Vì vậy căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật tổ chức tín dụng năm 2010 cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q, buộc bà N phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP Q (V1) toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số [...].23 đã ký kết ngày 13/12/2023 tính đến ngày 18/6/2025 tổng số tiền là 522.203.825 đồng, trong đó số tiền gốc là 453,812,000 đồng, nợ lãi trong hạn là: 42.959.993 đồng, nợ lãi quá hạn là: 25.431.832 đồng là phù hợp.
[2.2] Xét Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 0026940.23 ngày 13/12/2023 Để đảm bảo cho khoản vay, bà N đã ký kết với Ngân hàng TMCP Q Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 0026940.23 ngày 13/12/2023. Tài sản thế chấp là xe ô tô nhãn hiệu KIA, Số loại CARENS, Biển số đăng ký: 19A-624.62 đăng ký tên chủ xe Nguyễn Thị N. Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 0026940.23 ngày 13/12/2023 đã được công chứng tại Văn phòng C ngày 13/12/2023 và tài sản thế chấp đã được đăng ký biện pháp bảo đảm tại Đội Cảnh sát giao thông công an huyện P, tỉnh Phú Thọ. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp này thì hiện nay chiếc xe không có tại nhà bà N, bà N khai chiếc xe hiện nay chị H1 đi đâu làm gì bà N không biết, do vậy không tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ được.
Nay ngân hàng yêu cầu trong trường bà không thực hiện hoặc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng V1 thì ngân hàng V1 có quyền được tự phát mại tài sản bảo đảm hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm theo hợp đồng thế chấp bà N đã ký kết với ngân hàng V1. Trường hợp số tiền thu được từ phát mại, xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bà N phải có nghĩa vụ trả hết nợ cho ngân hàng V1.
6
Hội đồng xét xử xét thấy Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 0026940.23 ngày 13/12/2023 giữa Ngân hàng TMCP Q và bà N có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy, trong trường hợp bà Nguyễn Thị N không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Q thì Ngân hàng TMCP Q (V1) có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là xe ô tô nhãn hiệu KIA, Số loại CARENS, Biển số đăng ký: 19A-624.62 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô tên chủ xe Nguyễn Thị N.
[2.3] Đối với khoản vay nợ thẻ tín dụng theo đơn phát hành thẻ tín dụng đã ký ngày 14/12/2023, bà N thừa nhận có ký Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng, cụ thể bao nhiêu và hiện nay còn nợ bao nhiêu bà không nắm được. Theo giấy đề nghị phát hành thẻ thì bà N có đề nghị đề nghị sử dụng thẻ tín dụng với hạn mức là 48.000.000đ, bà N có ký trong giấy đề nghị, Theo tài liệu chứng cứ do ngân hàng cung cấp thì hiện nay dư nợ khoản vay thẻ tín dụng theo đơn phát hành thẻ tín dụng đã ký ngày 14/12/2023, tính đến ngày xét xử 18/6/2025 bà N còn nợ tổng số tiền là 77.385.418 đồng, trong đó số tiền gốc là 37.411.873đ đồng, nợ lãi là 15.608.103 đồng, nợ phí là: 24.365.442 đồng. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q, buộc bà N phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP Q (V1) tính đến ngày xét xử 18/6/2025 tổng số tiền là 77.385.418 đồng, trong đó số tiền gốc là 37.411.873đ đồng, nợ lãi là 15.608.103 đồng, nợ phí là: 24.365.442 đồng là phù hợp.
[3] Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q (V1) được chấp nhận nên Ngân hàng TMCP Q không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bà Nguyễn Thị N là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí vì vậy bà N được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
[4] Về lệ phí: Ngân hàng TMCP Q (V1) tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ số tiền 1.000.000đ. Xác nhận Ngân hàng TMCP Q đã nộp 1.000.000đ (Một triệu đồng).
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[6] Xét quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật nên cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, khoản 2 Điều 227, Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 280, Điều 317, Điều 318, Điều 320, Điều 323, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
7
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q (V1). Buộc bà Nguyễn Thị N phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Q theo Hợp đồng tín dụng số [...].23 đã ký kết ngày 13/12/2023 tính đến ngày xét xử 18/6/2025 tổng số tiền là 522.203.825 đồng (Năm trăm hai mươi hai triệu hai trăm linh ba nghìn tám trăm hai mươi lăm đồng), trong đó số tiền gốc là 453,812,000 đồng, nợ lãi trong hạn là: 42.959.993 đồng, nợ lãi quá hạn là: 25.431.832 đồng.
Trường hợp bà Nguyễn Thị N không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng thì Ngân hàng TMCP Q có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là xe ô tô nhãn hiệu KIA, Số loại CARENS, Biển số đăng ký: 19A-624.62 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô tên chủ xe Nguyễn Thị N.
Buộc bà Nguyễn Thị N phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Q dư nợ khoản vay thẻ tín dụng theo đơn phát hành thẻ tín dụng đã ký ngày 14/12/2023 tính đến ngày xét xử 18/6/2025 tổng số tiền là 77.385.418 đồng (bảy mươi bảy triệu ba trăm tám mươi lăm nghìn nốn trăm mười tám đồng), trong đó số tiền gốc là 37.411.873đ đồng, nợ lãi là 15.608.103 đồng, nợ phí là: 24.365.442 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Nguyễn Thị N còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị N được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại cho Ngân hàng TMCP Q 12.300.000đ (Mười hai triệu ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí ngày 0001386 ngày 14/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù NInh, tỉnh Phú Thọ.
- Về lệ phí: Ngân hàng TMCP Q tự nguyện chịu số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) lệ phí xem xét thẩm định tại chỗ. Xác nhận đã nộp 1.000.000đ (Một triệu đồng).
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở UBND xã nơi đương sự thường trú.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 - luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự.
8
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Việt Giang |
9
Bản án số 16/2025/DS-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 16/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam (VIB) khởi kiện bà Nguyễn Thị Nam, sinh năm 1961 về việc "Tranh chấp HĐ tín dụng"
