TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 16/2025/DS-ST
Ngày: 14-02-2025
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHÓ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Hương;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Nhân;
Bà Trần Vĩnh Hạnh;
Thư ký phiên tòa: Bà Thạch Thị Thi – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
Ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 325/2024/TLST-DS ngày 04 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2025/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1
Địa chỉ: Số B N, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn: Ông Nguyễn Lê Trường S– chuyên viên quản lý nợ; Địa chỉ: Số I V, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ (Văn bản ủy quyền số 118/GUQ-PGD.OM ngày 09/12/2024); Có mặt
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Bé T, sinh năm 1979; Địa chỉ: Số H L, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ; Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 19/01/2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đại diện cho nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 – Chi nhánh C – P (Gọi tắt là Ngân hàng) ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng với bà Nguyễn Thị Bé T theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 20/6/2017, cụ thể như sau:
Thẻ tín dụng số 356480-2410;
Hẹn mức thẻ 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng);
Ngày cấp 21/06/2017
Lãi suất trong hạn: 2,15%/tháng;
Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn.
Trong quá trình sử dụng thẻ bà T vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng (Điều 2 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng) nên căn cứ thỏa thuận của hai bên về việc chuyển nợ quá hạn và chấm dứt sử dụng thẻ. Ngày 30/9/2023 Ngân hàng đã chấm dứt việc sử dụng thẻ của khách hàng trước hạn và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 12/02/2025 bà T còn nợ ngân hàng tổng cộng 51.586.615 đồng, trong đó vốn gốc 29.765.965 đồng; Lãi quá hạn 21.820.890 đồng.
Tại phiên tòa: Đại diện nguyên đơn yêu cầu buộc bà T thanh toán cho Ngân hàng tổng số nợ nêu trên và tiếp tục trả lãi quá hạn phát sinh trên tiền gốc theo mức lãi suất quá hạn theo thỏa thuận trong giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng, bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng kể từ ngày 13/02/2025 đến ngày trả hết nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ theo hợp đồng cấp tín dụng nên xác định quan hệ tranh chấp là tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn cư trú tại phường T, quận B, thành phố Cần Thơ nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa xét xử lần thứ 2 nên căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng của bà T ngày 20/6/2017 có xác nhận của Ngân hàng, xác định được: Bà T có giấy đề nghị Ngân hàng cấp thẻ tín dụng hạn mức 25.000.000 đồng. Ngày 21/6/2017 Ngân hàng đã xác nhận cấp cho bà T 01 thẻ tín dụng, hạn mức 25.000.000 đồng, hình thức bảo đảm tín chấp. Đồng thời theo giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng có thỏa thuận ràng buộc bởi Bản điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng (Gọi tắt là Bản điều khoản và điều kiện) được công bố công khai chính thức trên trang website của Ngân hàng. Giấy đề nghị của bà T cùng với Bản điều khoản và điều kiện tạo nên một hợp đồng ràng buộc pháp lý giữa hai bên. Như vậy bà T đã ký kết hợp đồng tín dụng (hình thức cấp thẻ tín dụng) với Ngân hàng và phải chịu lãi suất, các loại phí, thời hạn trả nợ theo Bản điều khoản và điều kiện của Ngân hàng.
[2.2] Theo Bảng sao kê lịch sử sử dụng thẻ của bà T thì bà T đã ngưng thanh toán nợ cho Ngân hàng từ ngày 30/6/2023, đến ngày 31/10/2023 Ngân hàng đã chuyển dư nợ thành nợ quá hạn. Bà T đã sử dụng thẻ từ ngày 31/7/2017 đến tháng 31/5/2023 với số tiền 64.259.080 đồng. Bà T đã thanh toán được cho Ngân hàng số tiền 82.925.808 đồng bao gồm tiền gốc, phí trễ hạn, lãi, phí vượt hạn mức và phí thường niên. Đại diện nguyên đơn trình bày rằng căn cứ vào Điều 20 của Bản điều khoản và điệu kiện thì số tiền thanh toán nêu trên tính theo thứ tự ưu tiên thanh toán các loại phí và tiền lãi trước nên tính đến ngày 12/02/2025 bà T còn nợ 51.586.615 đồng, trong đó tiền gốc 29.765.965 đồng, tiền lãi 21.820.650 đồng. Căn cứ vào quá trình sử dụng thẻ bà T đã không thanh toán đủ nợ cho ngân hàng nên bà T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng quy định tại Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện. Qua đối chiếu số tiền 51.586.615 đồng, trong đó tiền gốc 29.765.965 đồng, tiền lãi quá hạn 21.820.650 đồng mà đại diện nguyên đơn yêu cầu là phù hợp. Do đó yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở.
[2.3] Đối với lãi suất quá hạn: Lãi suất trong hạn 2,15%/tháng tương đương 25,8%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn. Tại phiên tòa đại diện nguyên đơn trình bày rằng áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất được công bố tại thời điểm hiện tại, nợ của bà T áp dụng lãi suất vào thời điểm hiện tại là 33,2%/năm nên lãi suất quá hạn là 49,8%/năm. Số tiền lãi đại diện nguyên đơn yêu cầu 21.820.650 đồng (Tính trên tiền gốc 29.765.965 đồng tính từ ngày 31/10/2023 đến ngày 12/02/2025).
Căn cứ vào việc áp dụng lãi suất quy định tại Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện Điều; Quyết định 1297/2015/QĐ-TTT ngày 16/12/2015 của Ngân hàng về ban hành biểu phí sản phẩm dịch vụ thẻ S2 phát hành tại Việt Nam thì số tiền lãi mà đại diện nguyên đơn trình bày là phù hợp theo quy định nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Bị đơn phải chịu án phí khi yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận là 2.579.331 đồng (Hai triệu năm trăm bảy mươi chín nghìn ba trăm ba mươi mốt đồng).
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227, Điều 228; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Bé T.
Bà Nguyễn Thị Bé T có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 tổng tiền gốc và lãi tính đến ngày 12/02/2025 là 51.586.625 đồng (Năm mươi mốt triệu năm trăm tám mươi sáu nghìn sáu trăm hai mươi lăm đồng), trong đó tiền gốc 29.765.965 đồng và tiền lãi quá hạn 21.820.890 đồng.
Bà Nguyễn Thị Bé T tiếp tục trả lãi quá hạn phát sinh trên tiền gốc theo mức lãi suất quá hạn theo thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 20/6/2017, Bản điều khoản và điều kiện kể từ ngày 13/02/2025 đến ngày trả hết nợ.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.118.530 đồng (Một triệu một trăm mười tám nghìn năm trăm ba mươi bốn đồng) theo biên lai thu số 0001085 ngày 14/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
Bị đơn chịu án phí 2.579.331 đồng (Hai triệu năm trăm bảy mươi chín nghìn ba trăm ba mươi mốt đồng), nộp tại Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
* Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thùy Hương |
Bản án số 16/2025/DS-ST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 16/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ngân hàng S1 kiện bà T
