|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 16/2025/DS-PT
Ngày: 17/02/2025.
V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA.
- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thu Hà. |
| Các thẩm phán: | Bà Lê Thị Tố Như. |
| Ông Vũ Đại Long. |
- Thư ký phiên tòa: bà Đỗ Kim Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: bà Lữ Thị Phương Quý - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 113/2024/TLPT-DS ngày 08 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 108/2024/QĐXXPT-DS ngày 26 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1962. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện theo ủy quyền của bà H: anh Phạm Ngọc H1, sinh năm 1987. Có mặt.
Địa chỉ : Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
* Bị đơn: Ông Lê Bá L - sinh năm 1954. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phạm Thị H2, sinh năm 1958. Vắng mặt.
- Anh Lê Bá C, sinh năm 1991. Có mặt.
- Chị Bùi Thị Ngọc T, sinh năm 1995. Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Phạm Thị H và người đại diện theo ủy quyền của bà H trình bày:
Bà là chủ sử dụng thửa đất số 209, tờ bản đồ số 02, diện tích 404m², loại đất ở, địa chỉ: thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Nguồn gốc đất do Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất. Gia đình bà sử dụng thửa đất từ năm 2004 đến năm 2007 thì được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ ông Phạm Ngọc H3 (chồng bà) và bà là Phạm Thị H. Hiện nay chồng bà đã chết ngày 02/8/2012, vợ chồng bà có 01 con chung là Phạm Ngọc T1 đã chết ngày 16/01/2007. Hiện tại thửa đất trên chỉ còn mình bà là chủ sử dụng.
Quá trình sử dụng đất, gia đình bà đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính liên quan đến thửa đất. Hộ ông Lê Bá L ở liền kề nhà bà, hộ ông L là chủ sử dụng thửa đất số 210, tờ bản đồ số 02, ranh giới giữa 2 nhà trước đây là bờ rào bằng chè mạn. Sau đó, bà đi làm thuê, khi về nhà thì ranh giới giữa hai nhà đã được ông L xây tường rào bằng gạch, ông L xây vào thời điểm nào bà không nhớ. Gần đây, vào năm 2023 bà chuyển nhượng đất cho người khác, thực hiện việc tách thửa, nhưng Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T trả lại hồ sơ do thửa đất bị thiếu 13m² so với diện tích được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà khẳng định hộ ông L đã lấn chiếm phần đất có diện tích 13m² của bà. Vì vậy, bà làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: buộc hộ ông Lê Bá L phải trả lại phần diện tích đất đã lấn chiếm cho bà là 13m². Hiện nay, theo kết quả đo đạc hiện trạng thì thửa đất của bà đang sử dụng thiếu 14,4m² so với diện tích được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên bà đề nghị Tòa án giải quyết buộc hộ ông L phải trả cho bà diện tích 14,4m², loại đất ở, trị giá 7.200.000đ.
* Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Lê Bá L trình bày:
Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà H. Nguồn gốc thửa đất gia đình ông đang sử dụng là được UBND xã T cấp đất không thu tiền sử dụng đất từ năm 1983. Năm 2007, hộ gia đình ông được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 210, tờ bản đồ số 02, diện tích 350m², địa chỉ: thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Gia đình ông đã sử dụng thửa đất ổn định từ năm 2007 đến nay. Tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hộ gia đình ông gồm có ông là Lê Bá L, vợ là Phạm Thị H2 (sinh năm 1958) và 03 con chung là Lê Bá T2 (sinh năm 1982). Lê Thị H4 (sinh năm 1985) và Lê Bá C (sinh năm 1990). Hiện nay cháu Lê Bá T2 và Lê Thị H4 đã chuyển khẩu đi nơi khác, chỉ còn cháu Lê Bá C đang ở chung khẩu với vợ chồng ông. Hộ bà Phạm Thị H sử dụng đất cùng thời điểm với gia đình ông, ranh giới giữa nhà ông với nhà bà H trước đây là bờ rào chè mạn, đến trước năm 2007 ông là người bỏ tiền xây lại tường rào cao 1,3m, dài 24m. Khi xây dựng tường rào, cả hai bên không xác định mốc giới, chỉ xây trên mốc giới cũ là bờ rào hàng cây chè mạn. Ông khẳng định diện tích đất hộ gia đình ông đang sử dụng không đúng so với diện tích được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2007. Hiện nay diện tích đất hộ gia đình ông đang sử dụng là 369m², chênh lệch so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 13m². Nguyên nhân chênh lệch là do đo đạc, chứ không phải do ông lấn chiếm. Ông không đồng ý với kết quả đo đạc hiện trạng, nhưng không yêu cầu đo đạc lại. Ông công nhận giữa 2 thửa đất có phần diện tích chồng lấn. Nay bà H khởi kiện yêu cầu ông trả lại phần đất là 14,4m² thì ông không đồng ý, ngoài ra ông không còn ý kiến gì khác.
* Quá trình giải quyết vụ án, bà Phạm Thị H2 - người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:
Bà là vợ ông Lê Bá L, gia đình bà và gia đình bà H là hàng xóm với nhau. Gia đình bà sử dụng thửa đất số 210, tờ bản đồ số 02, diện tích 356m², địa chỉ: thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, thửa đất đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI015155, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận H00052, cấp ngày 10/01/2007; mục đích sử dụng: đất ở tại nông thôn, nguồn gốc sử dụng đất: Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất như Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, tên người sử dụng đất: hộ ông Lê Bá L (sinh năm 1954), bà Phạm Thị H2 (sinh năm 1958). Hộ khẩu thường trú: thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Nay bà H khởi kiện gia đình bà thì bà không nhất trí với ý kiến của bà H, khi xây bức tường rào gia đình bà cùng gia đình bà H xây dựng. Bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
* Quá trình giải quyết vụ án, anh Lê Bá C - người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:
Anh sinh ra và lớn lên thì đã ở trên mảnh đất của bố mẹ là ông Lê Bá L và bà Phạm Thị H2, được chính quyền UBND xã T cấp là đất thổ cư lâu dài. Đất đai đã được xây tường bao quanh từ rất lâu, gia đình anh cũng không lấn chiếm đất đai của bất cứ hộ gia đình nào. Anh không đồng ý với kết quả đo đạc hiện trạng, không có ý kiến gì với yêu cầu khởi kiện của bà H.
* Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ:
1/ Đối với thửa đất gia đình bà Phạm Thị H đang sử dụng:
Theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 11/7/2024 của TAND huyện Thọ Xuân đối với thửa đất số 209, tờ bản đồ số 02, địa chỉ Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, do bà Phạm Thị H đang sử dụng, có kích thước như sau:
- - Chiều rộng hướng T, giáp đường thôn là 16,3m.
- - Chiều rộng hướng Đông Bắc, giáp thửa 198 và thửa 139 là 17m.
- - Chiều dài hướng Đ, giáp thửa 210 gồm 3 đoạn: đoạn 1 là 22,6m, đoạn 2 là 0,7m, đoạn 3 là 0,4m, tổng là 23,7m.
- - Chiều dài hướng T, giáp thửa 199 là 23,6m.
Tổng diện tích 389,6m², trên thửa đất có 01 nhà cấp 04, bếp, công trình phụ, tường xung quanh thửa đất và 01 số cây ăn quả. So với diện tích đất 404m² được cấp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì diện tích đất nhà bà H thiếu 14,4m². Cụ thể: cạnh chiều rộng hướng Tây Nam giáp đường thôn là 16,3m, thiếu 0,1m so với trích lục Bản đồ thửa đất là 16,4m; cạnh chiều rộng hướng Đông Bắc giáp thửa 198 và thửa 139 là 17m, so với Bản đồ thửa đất là 17,6m, thiếu 0,6m.
2/ Đối với thửa đất gia đình ông Lê Bá L đang sử dụng:
Theo các tài liệu chứng cứ do ông Lê Bá L giao nộp thì hộ ông L đang sử dụng thửa đất số 210, tờ bản đồ số 02, địa chỉ: thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, diện tích 356m², mục đích sử dụng: đất ở tại nông thôn, đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 10/01/2007 mang tên ông Lê Bá L, bà Phạm Thị H2.
Theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 11/7/2024 của TAND huyện Thọ Xuân đối với thửa đất số 210, tờ bản đồ số 02, địa chỉ Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, do hộ ông Lê Bá L đang sử dụng, có kích thước như sau:
- - Chiều rộng hướng T, giáp đường thôn gồm 3 đoạn: Đoạn 1 là 8,1m; đoạn 2 là 3,7m; đoạn 3 là 2,9m, tổng là 14,7m.
- - Chiều rộng hướng Đông Bắc, giáp thửa 198 và thửa 197 gồm 2 đoạn: đoạn 1 là 11,1m; đoạn 2 là 4,9m, tổng là 16m.
- - Chiều dài hướng Đ, giáp thửa 209 gồm 3 đoạn: đoạn 1 là 22,6m; đoạn 2 là 0,7m; đoạn 3 là 0,4m, tổng là 23,7m.
- - Chiều dài hướng T, giáp thửa 211 là 23,7m.
Tổng diện tích 377,5m², trên thửa đất có 01 nhà cấp 04, bếp, công trình phụ, tường xung quanh thửa đất. Thực tế hiện tại hộ ông L đang sử dụng diện tích đất là 377,5m², so với diện tích đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 356m² là đang thừa 21,5m². Phần chồng lấn giữa hai thửa 210 và 209 là 15,3m². Ông L không đồng ý với kết quả đo đạc hiện trạng, nhưng không yêu cầu đo lại.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 83/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa đã quyết định:
Căn cứ: Khoản 9 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 157; Khoản 1 Điều 158; Khoản 1 Điều 165; Khoản 1 Điều 166; Điều 271; Khoản 1 Điều 273; Điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 163; Điều 164; Điều 166; Điều 579; Điều 580 Bộ luạt dân sự; Khoản 5 Điều 26; Điều 31; Điều 236 Luạt đát đai năm 2004; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc tranh chấp quyền sử dụng đất của bà Phạm Thị H đối với ông Lê Bá L.
Buộc ông Lê Bá L và bà Phạm Thị H2, anh Lê Bá C và chị Bùi Thị Ngọc T phải trả lại diện tích đất lấn chiếm cho bà Phạm Thị H là 14,4m², loại đất ở, trị giá 7.200.000đ, địa chỉ thửa đất: thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, có kích thước như sau:
- - Chiều rộng hướng T, giáp đường thôn là 0,1m;
- - Chiều rộng hướng Đông Bắc, giáp thửa 198 là 0,6m;
- - Chiều dài hướng Đông Nam, giáp thửa 210 gồm 03 đoạn: đoạn 1 là 22,6m; đoạn 2 là 0,7m; đoạn 3 là 0,4m, tổng là 23,7m;
- - Chiều dài hướng T, giáp thửa 209 là 23,6m.
Buộc ông Lê Bá L và bà Phạm Thị H2, anh Lê Bá C và chị Bùi Thị Ngọc T phải tháo dỡ toàn bộ tài sản trên đất, gồm: tường rào xây gạch 110, kích thước 22,5m, chiều cao 1,15m, diện tích 25,87m² và 01 số cây chuối để trả lại nguyên trạng diện tích đất cho bà H.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
* Sau khi án sơ thẩm xử, ngày 07/10/2024 ông Lê Bá L có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm với lý do: bản án sơ thẩm chưa đưa ra được chứng cứ thuyết phục cũng như chưa trích đo diện tích đất của hai hộ có tranh chấp. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết các nội dung sau: xác định nguồn gốc đất được cấp từ năm 1983; lý do tăng giảm diện tích đất ở của các hộ; lấy ý kiến các hộ liền kề xung quanh về việc tăng giảm diện tích đất; đo đạc lại diện tích đất của các hộ liền kề với hai thửa đất đang tranh chấp.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà H không rút đơn khởi kiện, ông L không rút đơn kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Bà H tự nguyện chịu chi phí xây dựng lại bức tường rào giữa gia đình bà và gia đình ông L sau khi gia đình ông L thực hiện việc trả lại diện tích đất lấn chiếm cho gia đình bà.
Ý kiến của đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa:
- Về tố tụng: quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.
Đơn kháng cáo của ông Lê Bá L làm trong thời hạn luật định, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- Về nội dung: Căn cứ Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Bá L, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 83/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa (có bài phát biểu kèm theo).
- Về án phí: do kháng cáo không được chấp nhận nên ông L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, ông L là người cao tuổi nên được miễn nộp án phí theo quy định pháp luật.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, nghe lời trình bày của các đương sự và ý kiến của đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hình thức: đơn kháng cáo của ông Lê Bá L làm trong thời hạn luật định, được miễn nộp tạm ứng án phí theo quy định pháp luật, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét nội dung kháng cáo của ông Lê Bá L:
- Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, xem xét các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn giao nộp và trình bày của các đương sự tại phiên tòa, HĐXX xét thấy: thửa đất bà Phạm Thị H đang quản lý sử dụng là thửa đất số 209, tờ bản đồ số 02, địa chỉ: thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, có nguồn gốc Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất như Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất. Bà Phạm Thị H đã được Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 015138, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận H00035, cấp ngày 10/01/2007, diện tích đất là 404m²; mục đích sử dụng đất: đất ở tại nông thôn; thời hạn sử dụng: lâu dài.
Theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và kết quả đo đạc hiện trạng sử dụng đất, diện tích đất thực tế của bà H đang sử dụng là 389,6m², so với diện tích đất 404m² được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì diện tích đất của bà H đang thiếu 14,4m². Cụ thể: cạnh chiều rộng hướng Tây Nam giáp đường thôn là 16,3m, thiếu 0,1m so với trích lục bản đồ thửa đất; cạnh chiều rộng hướng Đông Bắc giáp thửa 198 và thửa 139 là 17m, so với bản đồ thửa đất là 17,6m, thiếu 0,6m.
- Theo các tài liệu, chứng cứ bị đơn giao nộp, HĐXX xét thấy: hộ ông Lê Bá L hiện đang sử dụng thửa đất số 210, tờ bản đồ số 02, địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, diện tích: 356m², mục đích sử dụng: đất ở tại nông thôn, đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 015155, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận H00052, cấp ngày 10/01/2007 cho hộ ông Lê Bá L.
Theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và kết quả đo đạc hiện trạng sử dụng đất, diện tích đất thực tế của hộ ông L đang sử dụng là 377,5m², so với diện tích đất 356m² được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì diện tích đất của hộ ông L đang thừa 21,5m². Phần chồng lấn giữa hai thửa 209 và 210 là 15,3m². Tại giai đoạn xét xử sơ thẩm, ông L không đồng ý với kết quả đo đạc hiện trạng, nhưng không yêu cầu đo đạc lại. Mặt khác, tại biên bản giao nhận diện tích đo đạc địa chính ngày 05/7/2004, ông L đã ký bàn giao diện tích đất 356m², phù hợp với diện tích được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 210 hiện nay hộ ông L đang sử dụng.
- Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, ông L đề nghị đo đạc lại diện tích đất của các hộ liền kề với hai thửa đất đang tranh chấp, nhưng hết thời hạn theo đề nghị, ông L không nộp chi phí thẩm định và đo đạc lại, nên HĐXX xét xử không có cơ sở thực hiện.
Như vậy, qua kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và kết quả đo đạc hiện trạng sử dụng đất ngày 11/7/2024 của Tòa án cấp sơ thẩm thì diện tích đất của bà H thiếu 14,4m² so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích đất của hộ ông L sử dụng đang thừa 21,5m² so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp. Khi xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào Sổ địa chính xã T; Trích ngang sơ đồ địa chính thửa đất xã T; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông Phạm Ngọc H3, bà Phạm Thị H và hộ ông Lê Bá L, bà Phạm Thị H2; Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ; Kết quả đo đạc hiện trạng ngày 11/7/2004 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T, xác định diện tích đất hộ ông L đang lấn chiếm của bà H là 14,4m², nằm trong phần diện tích đất chồng lấn giữa 2 thửa đất số 209 và 210, không nằm trong phần diện tích đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông Lê Bá L; buộc hộ ông Lê Bá L (gồm ông Lê Bá L, bà Phạm Thị H2, anh Lê Bá C, chị Bùi Thị Ngọc T) phải tháo dỡ các công trình xây dựng trên đất, trả lại diện tích đất lấn chiếm cho bà Phạm Thị H là có cơ sở pháp luật.
Từ những phân tích trên, có cơ sở xác định diện tích đất bà Phạm Thị H và hộ ông Lê Bá L đang sử dụng có nguồn gốc Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất như Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Lý do tăng giảm diện tích đất giữa hộ ông L và bà H là do có sự chồng lấn giữa hai nhà. Hộ ông L lấn chiếm của bà H diện tích đất 14,4m², nằm trong phần diện tích đất chồng lấn, hộ ông L phải tháo dỡ các công trình xây dựng trên đất, trả lại diện tích đất lấn chiếm cho bà H là có căn cứ. Vì vậy, không có cơ sở chấp nhận toàn bộ nội dung kháng cáo của ông Lê Bá L.
Bà H tự nguyện chịu chi phí xây dựng lại bức tường rào giữa gia đình bà và gia đình ông L sau khi gia đình ông L thực hiện việc trả lại diện tích đất lấn chiếm cho gia đình bà. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của bà H, không vi phạm quy định pháp luật, nên chấp nhận.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Về án phí DSPT: do kháng cáo không được chấp nhận nên ông L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, ông L là người cao tuổi nên được miễn nộp án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 308; khoản 1 Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Bá L.
- Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 83/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
Áp dụng: Khoản 9 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 157; Khoản 1 Điều 158; Khoản 1 Điều 165; Khoản 1 Điều 166; Điều 271; Khoản 1 Điều 273; Điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 163; Điều 164; Điều 166; Điều 579; Điều 580 Bộ luật dân sự; Khoản 5 Điều 26; Điều 31; Điều 236 Luật đất đai năm 2004; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc tranh chấp quyền sử dụng đất của bà Phạm Thị H đối với ông Lê Bá L.
- Buộc ông Lê Bá L và bà Phạm Thị H2, anh Lê Bá C và chị Bùi Thị Ngọc T phải trả lại diện tích đất lấn chiếm cho bà Phạm Thị H là 14,4m², loại đất ở, trị giá 7.200.000đ, địa chỉ thửa đất: thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, có kích thước như sau:
- + Chiều rộng hướng T, giáp đường thôn là 0,1m;
- + Chiều rộng hướng Đông Bắc, giáp thửa 198 là 0,6m;
- + Chiều dài hướng Đông Nam, giáp thửa 210 gồm 03 đoạn: đoạn 1 là 22,6m; đoạn 2 là 0,7m; đoạn 3 là 0,4m, tổng là 23,7m;
- + Chiều dài hướng T, giáp thửa 209 là 23,6m.
- Buộc ông Lê Bá L và bà Phạm Thị H2, anh Lê Bá C và chị Bùi Thị Ngọc T phải tháo dỡ toàn bộ tài sản trên đất, gồm: tường rào xây gạch 110, kích thước 22,5m, chiều cao 1,15m, diện tích 25,87m² và 01 số cây chuối để trả lại nguyên trạng diện tích đất cho bà Phạm Thị H.
* Ghi nhận sự tự nguyện của bà Phạm Thị H tự nguyện chịu chi phí xây dựng lại bức tường rào giữa gia đình bà và gia đình ông L sau khi gia đình ông L thực hiện việc trả lại diện tích đất lấn chiếm cho gia đình bà.
Về án phí dân sự phúc thẩm: ông Lê Bá L được miễn nộp án phí dân sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thu Hà |
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN.
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA.
Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thu H5. |
| Các thẩm phán: | Ông Vũ Đại L1. |
| Bà Lê Thị Tố N. |
Căn cứ vào Điều 235 và Điều 264 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vào hồi giờ ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại phòng nghị án, Hội đồng xét xử đã tiến hành nghị án đối với vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 113/2024/TLST-DS ngày 08/11/2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, giữa:
* Nguyên đơn: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1962. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện theo ủy quyền của bà H: anh Phạm Ngọc H1, sinh năm 1987. Có mặt.
Địa chỉ : Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
* Bị đơn: Ông Lê Bá L - sinh năm 1954. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phạm Thị H2, sinh năm 1958. Vắng mặt.
- Anh Lê Bá C, sinh năm 1991. Có mặt.
- Chị Bùi Thị Ngọc T, sinh năm 1995. Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề phải giải quyết trong vụ án như sau:
NỘI DUNG:
* Về tố tụng: đơn kháng cáo của ông Lê Bá L làm trong thời hạn luật định, được miễn nộp tạm ứng án phí theo quy định pháp luật, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Kết quả biểu quyết: thống nhất 3/3.
* Về nội dung:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 308; khoản 1 Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Bá L.
- Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 83/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
Áp dụng: Khoản 9 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 157; Khoản 1 Điều 158; Khoản 1 Điều 165; Khoản 1 Điều 166; Điều 271; Khoản 1 Điều 273; Điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 163; Điều 164; Điều 166; Điều 579; Điều 580 Bộ luật dân sự; Khoản 5 Điều 26; Điều 31; Điều 236 Luật đất đai năm 2004; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc tranh chấp quyền sử dụng đất của bà Phạm Thị H đối với ông Lê Bá L.
- Buộc ông Lê Bá L và bà Phạm Thị H2, anh Lê Bá C và chị Bùi Thị Ngọc T phải trả lại diện tích đất lấn chiếm cho bà Phạm Thị H là 14,4m², loại đất ở, trị giá 7.200.000đ, địa chỉ thửa đất: thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, có kích thước như sau:
- + Chiều rộng hướng T, giáp đường thôn là 0,1m;
- + Chiều rộng hướng Đông Bắc, giáp thửa 198 là 0,6m;
- + Chiều dài hướng Đông Nam, giáp thửa 210 gồm 03 đoạn: đoạn 1 là 22,6m; đoạn 2 là 0,7m; đoạn 3 là 0,4m, tổng là 23,7m;
- + Chiều dài hướng T, giáp thửa 209 là 23,6m.
- Buộc ông Lê Bá L và bà Phạm Thị H2, anh Lê Bá C và chị Bùi Thị Ngọc T phải tháo dỡ toàn bộ tài sản trên đất, gồm: tường rào xây gạch 110, kích thước 22,5m, chiều cao 1,15m, diện tích 25,87m² và 01 số cây chuối để trả lại nguyên trạng diện tích đất cho bà Phạm Thị H.
* Ghi nhận sự tự nguyện của bà Phạm Thị H tự nguyện chịu chi phí xây dựng lại bức tường rào giữa gia đình bà và gia đình ông L sau khi gia đình ông L thực hiện việc trả lại diện tích đất lấn chiếm cho gia đình bà.
Kết quả biểu quyết: thống nhất 3/3.
* Về án phí: ông Lê Bá L được miễn nộp án phí dân sự phúc thẩm.
Kết quả biểu quyết: thống nhất 3/3.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Vũ Đại Long Lê Thị Tố N |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thu H5 |
Bản án số 16/2025/DS-PT ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 16/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
