|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM Bản án số: 16/2025/DS-PT Ngày 05 - 3 - 2025; “Tranh chấp quyền sử dụng đất ” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | ông Nguyễn Hữu Thịnh. |
| Các Thẩm phán: | ông Nguyễn Văn Dũng. |
| bà Lê Thị Anh Đào. |
- Thư ký phiên tòa: bà Đỗ Thị Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Quang Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 125/2024/TLPT-DS ngày 28 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”;
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 45/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 10/2025/QĐ-PT ngày 19 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: ông Trần V, sinh năm 1960 và bà Huỳnh Thị P, sinh năm 1961;
- - Đồng bị đơn: ông Trần Ngọc A, sinh năm 1958;
- ông Trần Minh S, sinh năm 1964;
- ông Trần Minh L, sinh năm 1971;
- Tất cả cùng địa chỉ: thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Do ông Nguyễn Văn L1, Chủ tịch UBND xã T đại diện.
- Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1972;
- Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1956;
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1973;
- Cùng địa chỉ: thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam.
- - Người kháng cáo: nguyên đơn ông Trần V và bà Huỳnh Thị P.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Trần V và bà Huỳnh Thị P trình bày: Vợ chồng ông Trần V và bà Huỳnh Thị P khai hoang, sử dụng diện tích 995,8m², thuộc thửa đất số 1489, tờ bản đồ số 12 (CSDL là thửa số 1617, tờ bản đồ số 12) tại thôn T, xã T, huyện N từ năm 1995. Phần diện tích này vợ chồng ông V có đăng ký theo Nghị định 64/CP. Khi làm hồ sơ cấp Giấy CNQSD đất, UBND xã có Thông báo số 78/TB ngày 12/8/2021, đã xong các thủ tục niêm yết và Thông báo ngày 26/7/2021 được Hội đồng tư vấn của xã xác nhận. Sau khi niêm yết, không có ai tranh chấp khiếu nại, UBND xã T chuyển hồ sơ cho Chi nhánh Văn phòng Đ, thì bị các ông Trần Ngọc A, Trần Minh S và Trần Minh L tranh chấp. Các ông nói trên không có khiếu nại gì trong thời gian niêm yết, không có kê khai, đăng ký theo quy định và cũng không sử dụng nhưng lại tranh chấp với vợ chồng ông. Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án: buộc các ông Trần Ngọc A, Trần Minh S và Trần Minh L chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng hợp pháp của vợ chồng ông với diện tích 995,8 m², thuộc thửa 1617, tờ bản đồ số 12 tại thôn L, xã T, huyện N.
Bị đơn các ông Trần Ngọc A, Trần Minh S và Trần Minh L thống nhất trình bày: Năm 1980, cha mẹ các ông là ông Trần V1 và bà Huỳnh Thị L2 được Hợp tác xã N1 chia 1/3 diện tích đất thuộc thửa đất số 80, tờ bản đồ số 6 (HS 64/CP). Cha, mẹ các ông canh tác liên tục đến năm 2002 thì cha mẹ các ông chết, các ông thừa hưởng và tiếp tục sử dụng. Đến năm 2005, Ban N2 mượn làm sân bóng, đến năm 2017 thì trả lại cho các hộ thì các ông tiếp tục canh tác đến năm 2019 thì cho ông Trần Vĩnh M để canh tác. Đến năm 2021 được biết vợ chồng ông V tự ý làm thủ tục cấp Giấy CNQSD đất cho phần đất này. Nên các ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông V, bà P.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Các bà Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị Thu H và Nguyễn Thị N trình bày: không biết gì về nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp, đền nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.
+ Tại Công văn số 15/UBND-ĐC ngày 14/3/2024 (BL 105) UBND xã T cung cấp thông tin: “Theo hồ sơ 299/TTg lập trên địa bàn xã T Bắc năm 1985 thì tại thửa đất số 331, tờ bản đồ số 06, không thể hiện diện tích, không có hộ gia đình, cá nhân kê khai đăng ký; Theo hồ sơ 64/CP lập trên địa bàn xã T Bắc năm 1995 thì tại thửa đất số 80, tờ bản đồ số 06, diện tích 1.431m² tên sử dụng UBND xã; Vào khoảng năm 2003-2005, Ban N3, (nay là T) sử dụng diện tích đất trên để làm sân bóng đá thôn. Đến năm 2005, thôn L, có tờ trình xin quy hoạch sân bóng này. Năm 2016, sân bóng được các hộ tự phân chia thành 03 phần (phần đất tranh chấp theo phúc đáp Công văn số 28/CV-TA) có ranh giới bờ rào, trồng keo tại hồ sơ theo CSDL được Sở T duyệt ngày 18/11/2015 tại thửa đất số 1474, tờ bản đồ số 12, loại đất thể thao (DTT). Hiện trạng tại thửa số 1617, tờ bản đồ số 12 tranh chấp giữa ông Trần V, bà Huỳnh Thị P với các ông Trần Ngọc A, Trần Minh S, Trần Minh L thì ông Trần V đang canh tác sử dụng từ sau năm 2016, sau khi các hội tự phân chia thành 3 phần trên sân bóng.
Tại Công văn số 44/UBND-ĐC ngày 17/6/2024 (BL 130), UBND xã T Bắc bổ sung: Sau khi tiếp nhận đơn kiến nghị về tranh chấp vào ngày 21/4/2022, qua ra soát, đối chiếu tài liệu, hồ sơ liên quan để tiến hành việc hòa giải. Phát hiện hồ sơ, tài liệu tại vị trí thửa đất với ông Trần V đang canh tác không có ai đăng ký các hồ sơ 299/TTg, 64/CP, hồ sơ CSDL. Do trước đây ông Trần V cho B nhân dân thôn thuê để làm sân bóng, nên khi đo đạc theo hồ sơ CSDL mới đưa vào loại đất thể thao (DTT). Hiện vị trí diện tích đất trên ông Trần V đang canh tác sử dụng.
Với nội dung như trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 45/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam đã căn cứ khoản 3 Điều 26; các điều 35, 39, 147, 157, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các điều 158, 160, 169, 181 Bộ luật Dân sự; khoản 5 Điều 95, các điều 100, 101, 166, 167 và Điều 203 Luật Đất đai 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần V, bà Huỳnh Thị P với các ông Trần Ngọc A, Trần Minh S và Trần Minh L về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với diện tích 995,8m², thuộc thửa 1617, tờ bản đồ số 12 (CSDL) tại thôn L, xã T, huyện N.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 18/9/2024 nguyên đơn ông Trần V và bà Huỳnh Thị P kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam phát biểu ý kiến:
- - Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về việc thụ lý, xét xử vụ án; các đương sự đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
- - Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên toà để thu thập, bổ sung thêm tài liệu, chứng cứ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, không rút đơn kháng cáo, yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm.
Về thời hạn kháng cáo: nguyên đơn ông Trần V và bà Huỳnh Thị P kháng cáo trong thời hạn nên Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam thụ lý phúc thẩm vụ án theo quy định tại Điều 285 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa: tại phiên tòa phúc thẩm vắng mặt bị đơn ông Trần Minh S và một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, tuy nhiên những người này đều có đơn xin xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự là phù hợp.
[2]. Xét nội dung kháng cáo
[2.1] Về diện tích đất tranh chấp:
Tại Phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Núi Thành đo vẽ ngày 09/11/2023 (BL 92) và được các đương sự có mặt tại phiên toà phúc thẩm thừa nhận:
Phần diện tích nguyên đơn ông Trần V và bà Huỳnh Thị P tranh chấp là 995,8m² đất, thuộc thửa đất số 1617 tại thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Gồm 02 phần:
- - Phần vị trí 1 có diện tích 527,9m² đất bị đơn ông Trần Ngọc A, ông Trần Minh S và ông Trần Minh L tranh chấp.
- - Phần vị trí 2 có diện tích 467,9m² đất bị đơn ông Trần Ngọc A, ông Trần Minh S và ông Trần Minh L không tranh chấp.
[2.2] Đối với diện tích 527,9m² đất nguyên đơn ông Trần V và bà Huỳnh Thị P yêu cầu Toà án buộc các ông Trần Ngọc A, Trần Minh S và Trần Minh L chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng. Bị đơn ông Trần Ngọc A, Trần Minh S và Trần Minh L tranh chấp vì cho rằng đất của cha mẹ các ông, Hội đồng xét xử xét:
Tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 09/11/2023 (BL 88 và 89) và tại phiên toà phúc thẩm các đương sự có mặt đều thừa nhận: Trên diện tích 527,9m² đất tranh chấp chỉ có cây cối, vật kiến trúc và tài sản thuộc sở hữu của vợ chồng ông Trần Vĩnh .
Tại Công văn số 15/UBND-ĐC ngày 14/3/2024 (BL 105) và Công văn số 44/UBND-ĐC ngày 17/6/2024 (BL 130), UBND xã T Bắc cung cấp thông tin: Theo hồ sơ 299/TTg lập trên địa bàn xã T Bắc năm 1985 thì tại thửa đất số 331, tờ bản đồ số 6, không thể hiện diện tích, không có hộ gia đình, cá nhân kê khai đăng ký. Theo hồ sơ 64/CP lập trên địa bàn xã T Bắc năm 1995 thì tại thửa đất số 80, tờ bản đồ số 6, diện tích 1.431m² tên sử dụng UBND xã. Vào khoảng năm 2003-2005, Ban N3, (nay là T) sử dụng diện tích đất trên để làm sân bóng đá thôn. Đến năm 2005, thôn L, có tờ trình xin quy hoạch sân bóng này. Năm 2016, sân bóng được các hộ tự phân chia thành 03 phần (phần đất tranh chấp theo phúc đáp Công văn số 28/CV-TA) có ranh giới bờ rào, trồng keo tại hồ sơ theo CSDL được Sở T duyệt ngày 18/11/2015 tại thửa đất số 1474, tờ bản đồ số 12, loại đất thể thao (DTT). Hiện trạng tại thửa số 1617, tờ bản đồ số 12 tranh chấp giữa ông Trần V, bà Huỳnh Thị P với các ông Trần Ngọc A, Trần Minh S, Trần Minh L thì ông Trần V đang canh tác sử dụng từ sau năm 2016, sau khi các hội tự phân chia thành 3 phần trên sân bóng. Do trước đây ông Trần V cho B nhân dân thôn thuê để làm sân bóng, nên khi đo đạc theo hồ sơ CSDL mới đưa vào loại đất thể thao (DTT). Hiện vị trí diện tích đất trên ông Trần V đang canh tác sử dụng.
Tại Giấy xác nhận cá nhân hộ gia đình sử dụng đất nông nghiệp UBND xã T đã xác nhận: ông Trần V và bà Huỳnh Thị P có hộ khẩu và là người đang trực tiếp sử dụng thửa đất số 1617, diện tích 995,8m² tại thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam và thửa đất trên không thuộc đất công ích do UBND xã T quản lý. Ông Trần Vĩnh C1 kê khai theo hồ sơ CSDL là thửa đất số 1617, diện tích 995,8m² tại thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam.
Hồ sơ xin cấp Giấy CNQSD đất thửa đất số 1617, diện tích 995,8m² tại thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam của vợ chồng ông Trần V: có các hộ giáp ranh ký tứ cận; có Phiếu lấy ý kiến của khu dân cư về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất; Có Biên bản họp Hội đồng tư vấn xác nhận đất và đã có Thông báo kết thúc niêm yết kết quả kiểm tra hồ sơ đăng ký cấp Giấy CNQSD đất và UBND xã T đã chuyển hồ sơ về Chi nhánh Văn phòng Đ để giải quyết.
Như vậy, mặc dù, phần diện tích 527,9m² đất các ông Trần Ngọc A, Trần Minh S và Trần Minh L tranh chấp, hộ ông Trần V không có các giấy tờ theo quy định tại khoản 1, 2 và 3 Điều 100 Luật Đất đai năm 2013, nhưng tại hồ sơ đăng ký cấp Giấy CNQSD đất được UBND xã T chuyển về Chi nhánh Văn phòng Đ để giải quyết đã có đầy đủ thông tin phần diện tích 527,9m² đất tranh chấp vợ chồng ông Trần V: có các hộ giáp ranh ký tứ cận; có Phiếu lấy ý kiến của khu dân cư về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất; Có Biên bản họp Hội đồng tư vấn xác nhận đất và đã có Thông báo kết thúc niêm yết kết quả kiểm tra hồ sơ đăng ký cấp Giấy CNQSD đất. Vợ chồng ông Trần V cũng là người đang quản lý sử dụng và có tài sản diện tích 527,9m² đất tranh chấp. Trong khi đó, các ông Trần Ngọc A, Trần Minh S và Trần Minh L tranh chấp nhưng không có chứng cứ chứng minh: diện tích 527,9m² đất thuộc quyền quản lý sử dụng của các bị đơn và các bị đơn cũng không có tài sản trên diện tích 527,9m² đất tranh chấp. Tại phiên toà phúc thẩm, các bị đơn ông Trần Ngọc A và ông Trần Minh L đều thừa nhận: Sau khi B nhân dân thôn sử dụng để làm sân bóng, các bị đơn không tham gia đòi đất sân bóng, vì nghỉ mình không có giấy tờ.
Nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Buộc ông Trần Ngọc A, ông Trần Minh S và ông Trần Minh L chấm dứt hành vi cản trở vợ chồng ông Trần Vĩnh đối V2 phần diện tích 527,9m² đất (vị trí 1), thuộc thửa đất số 1617, diện tích 995,8m² tại thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam.
Trên phần diện tích 527,9m² thuộc quyền quản lý, sử dụng của vợ chồng ông Trần V, các đương sự đều thừa nhận: ông Trần Ngọc A, ông Trần Minh S và ông Trần Minh L không có tài sản gì, nên không giải quyết.
[2.3] Đối với diện tích 467,9m² đất nguyên đơn ông Trần V và bà Huỳnh Thị P yêu cầu Toà án buộc các ông Trần Ngọc A, ông Trần Minh S và ông Trần Minh L chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng. Bị đơn ông Trần Ngọc A, ông Trần Minh S và ông Trần Minh L không tranh chấp, Hội đồng xét xử xét:
Tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 09/11/2023 (BL 88 và 89) và tại phiên toà phúc thẩm các đương sự có mặt đều thừa nhận: Trên diện tích 467,9m² đất tranh chấp chỉ có cây cối, vật kiến trúc và tài sản thuộc sở hữu của vợ chồng ông Trần Vĩnh .
Như đã phân tích tại [2.2], phần diện tích 467,9m² đất mặc dù hộ ông Trần V không có các giấy tờ theo quy định tại khoản 1, 2 và 3 Điều 100 Luật Đất đai năm 2013, nhưng tại hồ sơ đăng ký cấp Giấy CNQSD đất được UBND xã T chuyển về Chi nhánh Văn phòng Đ để giải quyết đã có đầy đủ thông tin: có các hộ giáp ranh ký tứ cận; có Phiếu lấy ý kiến của khu dân cư về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất; Có Biên bản họp Hội đồng tư vấn xác nhận đất và đã có Thông báo kết thúc niêm yết kết quả kiểm tra hồ sơ đăng ký cấp Giấy CNQSD đất. Vợ chồng ông Trần V cũng là người đang quản lý sử dụng và có tài sản diện tích 467,9m² đất. Trong khi đó, các ông Trần Ngọc A, ông Trần Minh S và ông Trần Minh L cũng thừa nhận là diện tích 467,9m² đất thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông Trần Vĩnh . Nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Buộc ông Trần Ngọc A, ông Trần Minh S và ông Trần Minh L chấm dứt hành vi cản trở vợ chồng ông Trần Vĩnh đối V2 phần diện tích 467,9m² đất (vị trí 2), thuộc thửa đất số 1617, nằm trong diện tích 995,8m² tại thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam.
Từ sự phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Trần V và bà Huỳnh Thị P, sửa bản án sơ thẩm.
[3]. Về án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo được chấp nhận, nên ông Trần V và bà Huỳnh Thị P không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Do sửa bản án sơ thẩm, nên tính lại án phí dân sự sơ thẩm cho phù hợp. Cụ thể: do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận, nên ông Trần V và bà Huỳnh Thị P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Trần Ngọc A, ông Trần Minh S và ông Trần Minh L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.
[4] Chi phí thẩm định, định giá và đo vẽ 5.000.000 đồng: do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận, nên ông Trần V và bà Huỳnh Thị P không phải chịu. Ông Trần Ngọc A, ông Trần Minh S và ông Trần Minh L phải chịu chi phí thẩm định, định giá và đo vẽ 5.000.000 đồng. Do ông Trần V đã nộp tạm ứng, nên ông Trần Ngọc A, ông Trần Minh S và ông Trần Minh L phải hoàn trả cho ông V.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 và Điều 309 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Trần V và bà Huỳnh Thị P, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 45/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
Căn cứ khoản 3 Điều 26; các điều 35, 39, 147, 157, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các điều 158, 160, 169, 181 Bộ luật Dân sự; khoản 5 Điều 95, các điều 100, 101, 166, 167 và Điều 203 Luật Đất đai 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần V, bà Huỳnh Thị P về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” với bị đơn ông Trần Ngọc A, ông Trần Minh S và ông Trần Minh L.
Buộc ông Trần Ngọc A, ông Trần Minh S và ông Trần Minh L chấm dứt hành vi cản trở ông Trần V và bà Huỳnh Thị P trong việc sử dụng và làm thủ tục để được cấp Giấy CNQSD đất đối với thửa đất số 1617, diện tích 995,8m² tại thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam (có Phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất do Chi nhánh Văn phòng Đ1 vẽ ngày 09/11/2023).
Án phí dân sự sơ thẩm: ông Trần V và bà Huỳnh Thị P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho ông Trần Vĩnh S1 tiền tạm ứng án phí ông V đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0011654 ngày 05/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Núi Thành.
Ông Trần Ngọc A, ông Trần Minh S và ông Trần Minh L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).
Chi phí thẩm định, định giá và đo vẽ 5.000.000 đồng: ông Trần Ngọc A, ông Trần Minh S và ông Trần Minh L phải chịu chi phí thẩm định, định giá và đo vẽ 5.000.000 đồng. Do ông Trần V đã nộp tạm ứng, nên ông Trần Ngọc A, ông Trần Minh S và ông Trần Minh L phải hoàn trả cho ông Trần V 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 05/3/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa "Đã ký" Nguyễn Hữu Thịnh |
Bản án số 16/2025/DS-PT ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 16/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
