Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KHÁNH HÒA

Bản án số: 16/2025/DS-PT

Ngày: 04/3/2025

V/v đòi tài sản

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền

Các Thẩm phán: Bà Bùi Thị Bích Liễu

Ông Nguyễn Hồng Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Ánh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trang - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 03 và 04 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 110/2024/TLPT-DS ngày 21 tháng 10 năm 2024 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sử dụng đất”

Do có kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn T đối với Bản án số: 31/2024/DS-ST ngày 09/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2025/QĐXXPT- DS ngày 17 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, giữa:

Nguyên đơn:

  1. Ông Đặng Hùng T1, sinh năm 1934 (chết ngày 13/6/2023)
  2. Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Đặng Hùng T1:

    • + Bà Trịnh Thị S, sinh năm: 1949; địa chỉ: Thôn P, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
    • + Ông Đặng Hùng C, sinh năm: 1972; địa chỉ: Thôn P, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
    • + Bà Đặng Thị T2, sinh năm: 1974; địa chỉ: Thôn P, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
    • + Ông Đặng Hùng S1, sinh năm: 1978; địa chỉ: Thôn P, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

    Người đại diện theo ủy quyền của các ông, bà Trịnh Thị S, Đặng Hùng C, Đặng Thị T2, Đặng Hùng S1: Bà Đặng Thị T2, sinh năm: 1974; địa chỉ: Thôn P, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

  3. Ông Đặng Hùng C, sinh năm: 1972; địa chỉ: Thôn P, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
  4. Người đại diện theo ủy quyền của ông Đặng Hùng C: Bà Đặng Thị T2, sinh năm: 1974; địa chỉ: Thôn P, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

Bị đơn:

Ông Trần Văn T, sinh năm: 1967; địa chỉ: Thôn P, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Văn T: Ông Huỳnh Tấn H, sinh năm: 1967; địa chỉ: Số A Hương Lộ N, phường N, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

- Người kháng cáo: Bị đơn ông Trần Văn T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện ngày 23/3/2022, Đơn sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

Ông Đặng Hùng T1 và ông Đặng Hùng C là chủ sử dụng thửa đất số 202, tờ bản đồ số 17, diện tích 257,6m² tại địa chỉ: Thôn P, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 067227 và BI 067228 do UBND thành phố N cấp ngày 17/12/2012.

Nguồn gốc thửa đất trên là do ông Đặng Hùng T1 và ông Đặng Hùng C nhận chuyển nhượng từ ông Trần Văn C1 (hiện nay đã chết) theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 127/CN ngày 22/12/2004. Phần đất ông Đặng Hùng T1 và ông Đặng Hùng C nhận chuyển nhượng nói trên là một phần của thửa đất số 983, tờ bản đồ số 1b, diện tích 1.365m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 05633/QSDD/số 981-NT ngày 09/6/1992 do UBND thành phố N cấp cho ông Trần Văn C1. Ngày 14/6/2005, ông Đặng Hùng T1 và ông Đặng Hùng C đã được UBND thành phố N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 443277, số vào sổ cấp GCN: H 02715 đối với phần đất nhận chuyển nhượng với số thửa đất là 1564, tờ bản đồ 1b, diện tích 257m². Ngày 01/9/2005, Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố N đã chỉnh lý việc chuyển nhượng đất trên vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 05633/QSDĐ/số 981-NT ngày 09/6/1992 cấp cho ông Trần Văn C1. Sau đó, ngày 17/12/2012, UBND thành phố N đã cấp đổi theo dự án VLAP cho ông Đặng Hùng T1 và ông Đặng Hùng C thành hai Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 067227 và số BI 067228, cùng số vào sổ cấp GCN: CH 01056/22393 và đổi tên thửa đất 1564, tờ bản đồ số b1 thành thửa đất số 202, tờ bản đồ số 17, diện tích 257,6m².

Khi ký hợp đồng chuyển nhượng đất, vì ông Trần Văn T không có quyền sử dụng phần đất này nên ông T không có bất cứ ý kiến gì về việc chuyển nhượng.

Cuối tháng 3/2019, khi ông Đặng Hùng T1 và ông Đặng Hùng C cắm mốc ranh giới để chuẩn bị xây dựng nhà thì bị ông Trần Văn T ngăn cản. Ông T cho rằng diện tích đất trên là của gia đình ông và việc ông Đặng Hùng T1 và ông Đặng Hùng C nhận chuyển nhượng từ ông Trần Văn C1 là không hợp pháp, các thành viên trong gia đình ông T không biết về việc chuyển nhượng.

Ngày 23/6/2020, ông Đặng Hùng T1 và ông Đặng Hùng C làm Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất trên cho bà Đặng Thị T2. Sau khi nộp hồ sơ, ngày 06/7/2020, ông Đặng Hùng T1 và ông Đặng Hùng C nhận được Thông báo số 11762/CNTT của Chi nhánh Văn phòng Đ tại N về việc từ chối giải quyết hồ sơ do diện tích thửa đất có biến động nhưng chưa có bản vẽ mới. Khi ông Đặng Hùng T1 và ông Đặng Hùng C tiến hành đo vẽ thì một lần nữa, ông Trần Văn T lại ngăn cản, dẫn đến không thực hiện được giao dịch tặng cho đất. Việc ông T cố tình cản trở ông T1 và ông C thực hiện quyền sử dụng đất của mình là vi phạm pháp luật và xâm phạm đến lợi hợp pháp của ông Đặng Hùng T1 và ông Đặng Hùng C.

Vì vậy, ông Đặng Hùng T1 và ông Đặng Hùng C đề nghị Tòa án buộc ông Trần Văn T trả lại thửa đất số 202, tờ bản đồ số 17 trên cho ông T1 và ông C.

Trong quá trình tiến hành tố tụng bị đơn vắng mặt không có lý do và không có ý kiến trình bày về nội dung vụ án.

Bản án sơ thẩm số 31/2024/DSST ngày 09/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa đã căn cứ điều 155, 160, 163, 165 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 95, Điều 160, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 26 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; quyết định:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng Hùng T1 và ông Đặng Hùng C. Buộc ông Trần Văn T trả cho ông Đặng Hùng T1 và ông Đặng Hùng C phần đất có diện tích 257,6m² thuộc thửa đất số 202, tờ bản đồ số 17 tại địa chỉ: Thôn P, xã V, thành phố N theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 067227 và BI 067228 do UBND thành phố N cấp ngày 17/12/2012. (Có sơ đồ bản vẽ kèm theo)

Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 01/8/2024, bị đơn ông Trần Văn T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị đơn tiếp tục kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì đất chuyển nhượng thuộc quyền sử dụng của cha mẹ bị đơn là ông Trần Văn C1 và bà Trịnh Thị B nhưng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 127/CN ngày 22/12/2004 không có chữ ký của bà Trịnh Thị B, Hợp đồng chuyển nhượng đất không có sơ đồ lô đất chuyển nhượng là trái pháp luật; ngoài ra, trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đặng Hùng T1 và ông Đặng Hùng C sau khi nhận chuyển nhượng đất từ ông Trần Văn C1 không đúng quy định của pháp luật, có dấu hiệu giả mạo.

Nguyên đơn đề nghị Tòa án không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.

Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa:

Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa bản án sơ thẩm về án phí dân sự sơ thẩm, bị đơn chỉ phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm; giữ nguyên quyết định buộc bị đơn trả lại đất cho nguyên đơn; bị đơn không phải chịu án phí phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Đất tranh chấp là thửa đất 202, tờ bản đồ số 17, diện tích 257,6m², hiện nay đã được UBND thành phố N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (cấp đổi) số BI 067227 và số BI 067228, cùng số vào sổ cấp GCN: CH 01056/22393 ngày 17/12/2012 cho ông Đặng Hùng T1 và ông Đặng Hùng C; diện tích đất theo đo đạc thực tế là 240,3m². Thửa đất này có nguồn gốc là một phần của thửa đất số 983, tờ bản đồ số 1b, diện tích 1.365m², trong đó có 200m² đất ở, còn lại là đất quả đã được UBND thành phố N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 05633/QSDD/số 981-NT ngày 09/6/1992 cho ông Trần Văn C1.

[2] Ngày 22/12/2004, ông Trần Văn C1 ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 127/CN chuyển nhượng cho ông Đặng Hùng C và Đặng Hùng T1 phần đất trên, kèm sơ đồ vị trí lô đất được tách ra từ thửa đất 983, tờ bản đồ số 1b, Hợp đồng có chứng thực của UBND xã V, Vì vậy, ý kiến của bị đơn cho rằng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không có sơ đồ vị trí lô đất kèm theo là không đúng.

[3] Bị đơn ông Trần Văn T cho rằng đất là tài sản chung của cha mẹ ông là Trần Văn C1 và bà Trịnh Thị B nhưng không có gì chứng minh trong khi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 09/6/1992 được cấp cho một mình ông Trần Văn C1. Ngoài việc chuyển nhượng đất cho ông T1 và ông C, ông C1 còn đứng tên một mình tặng cho các con gái là Trần Thị P ngày 19/6/2006, tặng cho Trần Thị P1 ngày 18/12/2006 một phần thửa đất 983, tờ bản đồ số 1b và đến nay, không ai tranh chấp việc tặng cho này. Theo Biên bản xác minh ngày 04/4/2024 tại UBND xã V (bút lục 102) cũng như thừa nhận của bị đơn thì bà Trịnh Thị B (chết 2014) không có đăng ký kết hôn với ông Trần Văn C1. Bản thân bà B khi còn sống cũng không có ý kiến, không tranh chấp gì đối với việc Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 05633/QSDD/số 981-NT ngày 09/6/1992 cho ông C1, đối với việc ông C1 chuyển nhượng đất cho ông T1, ông C và việc UBND thành phố N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T1, ông C cũng như việc điều chỉnh chủ sử dụng đất trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông C1. Như vậy, đất thuộc quyền sử dụng riêng của ông C1 và việc ông chuyển nhượng đất cho ông T1, ông C và sau đó, ông T1, ông C kê khai đăng ký quyền sử dụng đất đứng tên hai ông là hoàn toàn đúng pháp luật.

[4] Tuy ông Đặng Hùng T1 và ông Đặng Hùng C đã làm Hợp đồng tặng cho thửa đất 202 cho bà Đặng Thị T2 nhưng chưa đăng ký sang tên bà T2 nên đất vẫn thuộc quyền sử dụng chung của ông T1 và ông C. Vì vậy, việc ông T1 và ông C khởi kiện yêu cầu ông T là người đang chiếm giữ đất trái pháp luật trả lại đất cho hai ông là có căn cứ. Quá trình giải quyết vụ án, ông Đặng Hùng T1 đã chết nên những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông là các ông, bà Trịnh Thị S, Đặng Hùng C, Đặng Thị T2, Đặng Hùng S1 thay ông Đặng Hùng T1 nhận lại đất.

[5] Đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp cho nguyên đơn ông T1 và ông C, bị đơn ông T không có đơn phản tố tranh chấp quyền sử dụng đất, nguyên đơn và bị đơn đều xác định đất đang do bị đơn chiếm giữ nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp là tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sử dụng đất là không đúng, cần xác định là tranh chấp về đòi lại tài sản. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết và tuyên xử bị đơn phải trả đất cho nguyên đơn là đúng nên Tòa án cấp phúc thẩm không hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại mà chỉ điều chỉnh lại quan hệ tranh chấp là đòi tài sản và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về việc buộc bị đơn trả lại đất cho nguyên đơn.

[6] Án phí: Đây là tranh chấp dân sự không có giá ngạch nên bị đơn phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị đơn chịu án phí dân sự sơ thẩm như tranh chấp có giá ngạch là không đúng, cần sửa lại. Bị đơn kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.

[7] Nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm và đã nộp đủ nên Tòa án không xem xét nghĩa vụ của bị đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 26 và Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Sửa bản án sơ thẩm.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Hùng T1 và ông Đặng Hùng C.

Ông Trần Văn T phải trả lại cho ông Đặng Hùng C và những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Đặng Hùng T1 là các ông, bà Trịnh Thị S, Đặng Hùng C, Đặng Thị T2, Đặng Hùng S1 thửa đất số 202, tờ bản đồ số 17, tại địa chỉ: Thôn P, xã V, thành phố N, đã được UBND thành phố N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 067227 và BI 067228, cùng số vào sổ cấp GCN: CH 01056/22393 ngày 17/12/2012 cho ông Đặng Hùng T1 và ông Đặng Hùng C; diện tích đất theo đo đạc thực tế là 240,3m² theo Sơ đồ thửa đất kèm theo bản án.

2. Chi phí tố tụng: Nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng và đã nộp đủ.

3. Án phí:

3.1. Ông Trần Văn T phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000đ tạm ứng án phí phúc thẩm ông đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002738 ngày 31/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang; như vậy, ông Trần Văn T đã nộp đủ án phí.

3.2. Trả lại cho ông Đặng Hùng C và những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Đặng Hùng T1 là các ông, bà Trịnh Thị S, Đặng Hùng C, Đặng Thị T2, Đặng Hùng S1 3.900.000đ tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0001884 ngày 27/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

- Các đương sự;

- VKSND tỉnh Khánh Hòa;

- TAND TP. Nha Trang;

- Chi cục THADS TP. Nha Trang;

- Lưu: VP, Tòa DS, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2025/DS-PT ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp quyền sử dụng đất và đòi lại tài sản

  • Số bản án: 16/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và đòi lại tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger