Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2024/DS-PT

Ngày: 10-01-2024

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Minh Tấn;

Bà Trần Thị Thắm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Lê Trung Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 515/2023/DS-PT ngày 22 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 96/2023/DS-ST ngày 11/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 522/2023/QĐ-PT ngày 21 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1947; địa chỉ: số B, đường H, khu phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương.

    Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Đỗ Thanh T, sinh năm 1977; địa chỉ: khu phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Tây Ninh, là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Giấy ủy quyền ngày 13/12/2022), có mặt.

  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Đình T1, sinh năm 1963; địa chỉ: khu phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương, có mặt.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Nguyễn Thị Xuân N, sinh năm 1977; địa chỉ: khu phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
    2. Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1979; địa chỉ: khu phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
    3. Bà Nguyễn Thị Ánh T3, sinh năm 1985; địa chỉ: khu phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
    4. Bà Nguyễn Thị Thanh V, sinh năm 1961; địa chỉ: khu phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
    5. Bà Nguyễn Thảo V1, sinh năm 1989; địa chỉ: khu phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
    6. Bà Nguyễn Thị Thủy T4, sinh năm 2001; địa chỉ: khu phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
    7. Ủy ban nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương; địa chỉ: khu phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương.

      Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Phương L – Chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện D và Công văn số 1867/UBND-BTCD ngày 09/9/2021 của Ủy ban nhân dân huyện D, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

  4. Người kháng cáo: Nguyên đơn Ông Nguyễn Văn C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ thẩm

* Theo đơn khởi kiện 14/4/2022, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Văn C trình bày:

Vào năm 1976, ông Nguyễn Văn C khai phá 01 phần đất có diện tích ngang 7m x dài 50m (diện tích 350m²), tại khu phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương, sau khi khai phá ông C sử dụng ổn định. Năm 1988, ông C xây dựng căn nhà tường cấp 4 trên đất có chiều ngang 5,5m x dài 17m cho mẹ vợ là bà Bùi Thị N1 ở nhờ. Năm 1989, em vợ ông C tên Nguyễn Đình T1 không có nhà ở nên có xin ông C cho ở nhờ. Năm 2002, ông C được Ủy ban nhân dân huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với tổng diện tích khai phá là 17.548m², tọa lạc tại khu phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương. Vào thời điểm đó có địa chính đến đo đạc, sơ đồ ông C không hiểu, chỉ nghĩ phần đất hiện nay tranh chấp có trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông C cho rằng căn bộ địa chính là ông V2 đã làm sai diện tích đất của ông. Đến năm 2012, ông C có nhu cầu chuyển nhượng đất thì địa chính đến đo đạc mới phát hiện phần đất ngang 7m x dài 50m cho bà N1 ở nhờ không có trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông C. Bà N2 thấy ông T1 có tính chiếm đất nên có làm giấy trả đất lại cho ông C và vợ ông C là Nguyễn Thị D, có sự chứng kiến của bà Nguyễn Ngọc C1 và bà Nguyễn Thị T5 là em vợ, có xác nhận của trưởng khu phố D là ông Lê Văn Đ. Nay, ông C khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng giải quyết buộc ông T1 trả lại phần đất tranh chấp có diện tích 381,1m² theo kết quả đo đạc vào ngày 14/01/2021.

* Quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Nguyễn Văn C và yêu cầu Tòa án sử dụng kết quả đo đạc, định giá sau để làm căn cứ giải quyết vụ án: Biên bản đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ ngày 05/11/2020 do Tòa án lập; Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý (tranh chấp) số: 85/2021 ngày 14/01/2021 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện D và kết quả định giá theo biên bản định giá ngày 18/3/2021 của Hội đồng định giá tài sản tranh chấp huyện D.

Chứng cứ ông C cung cấp: Đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn C ngày 14/4/2022 (bản chính), giấy chứng minh nhân dân và hộ khẩu của ông Nguyễn Văn C (bản sao), 01 giấy trả đất ứng án phí (bản phô tô), 01 Quyết định về việc thành lập hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai số 05/QĐ-UBND ngày 08/7/2019 của Ủy ban nhân dân thị trấn D, huyện D (bản chính), 01 biên bản hòa giải ngày 08/7/2019 của Ủy ban nhân dân thị trấn D, huyện D (bản chính), 01 đơn yêu cầu giải quyết ngày 21/01/2019 (bản chính), 01 trích lục Quyết định đình chỉ ngày 14/3/2022 (bản chính), 01 Quyết định đình chỉ số 35 ngày 28/2/2022 (bản chính), 01 đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí (bản chính), 01 giấy chứng tử của ông Nguyễn Đình H (bản phô tô), 01 trích lục khai tử của bà Bùi Thị N1 (bản phô tô), 01 trích lục khai tử của bà D (bản phô tô), 01 giấy khai sinh của Nguyễn Thị Ánh T (bản phô tô), 01 giấy khai sinh của Nguyễn Văn T2 (bản phô tô), 01 giấy khai sinh của Nguyễn Thị Xuân N (bản phô tô), 01 trích lục kết hôn (bản phô tô), tờ tường trình về quan hệ nhân thân (bản phô tô), bản tường trình (bản phô tô), 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông, bà Nguyễn Văn C (bản phô tô), khởi kiện bổ sung của ông C ngày 18/3/2021 (bản phô tô).

* Quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Đình T1 trình bày:

Nguồn gốc đất là do ông T1 khai phá năm 1987 với phần đất có diện tích ngang 15m x dài giáp với Đồng T6 (nay là giáp với Trung tâm Văn hóa huyện D), đến năm 1988 ông kết hôn với bà Nguyễn Thị Thanh V, tại thời điểm lấy vợ thì ông làm công nhân xí nghiệp cơ khí, vợ ông làm công nhân cầu đường do cả 02 đều làm công nhân nên ông làm đơn xin được cấp nhà để ở, lúc này xí nghiệp cơ khí nơi ông làm việc thấy hoàn cảnh gia đình khó khăn nên có cấp cho ông một phần đất để xây căn nhà tường cấp 4, cùng thời điểm đó ông C cũng được cấp vật tư để tự xây nhà nên ông và vợ ông C có bàn bạc cùng xây dựng nhà chung vách tường để không tốn chi phí, tại thời điểm xây dựng ông thường đi các nông trường làm việc, vợ thì mang thai đứa con đầu lòng nên hay lên cơn động kinh nên ông có nhờ vợ ông C trông coi việc xây dựng căn nhà dùm, đến năm 1992 ông có khai nộp thuế đất với tổng diện tích 500m² đối với phần đất tại số nhà B, ấp D sau đó đổi lại 8/10 ấp D và ông đã nộp thuế đến năm 2005. Ông T1 không thường xuyên ở trên đất là vào năm 1998 ông và vợ ly hôn nên ông về Thành phố Hồ Chí Minh làm công trình để lại toàn bộ nhà đất cho vợ con ở, khi ra đi thì ông C và chị vợ ông đuổi vợ ông ra khỏi nhà không cho ở trên đất, đuổi không được nên chiếm hết 08 mét đất chiều ngang x dài 50m, phần đất chiếm ông C đã bán cho bà năm D1, đến năm 2002 Ủy ban nhân dân huyện D cho kê khai cấp giấy đất lúc này vợ ông có cầm biên lai nộp thuế đất đến khu phố D, thị trấn D để đăng ký lúc này ông C đang là Công an khu phố 4B, ông Đ là trưởng ban đại diện khu phố 4B nên không cho kê khai đăng ký để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến năm 2012 vợ ông không chịu nổi sự đe dọa của ông C nên kêu ông về sống trên phần đất đang tranh chấp, giấy trả đất của ông C cung cấp đã quá sai, do thời điểm làm giấy trả đất mẹ ông bệnh nặng, nằm liệt một chỗ không còn minh mẫn, ông C đã tự lăn tay và tự đi chứng thực hơn nữa mẹ ông là người biết chữ nhưng tại giấy trả đất lại lăn tay và đánh dấu, mẹ ông là người có nhà không có lý do nào ở nhờ nhà ông C. Vào năm 2002 ông C cho rằng đất của ông nhưng ông không kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cùng với phần đất có diện tích 17.548m² là đều vô lý. Nay ông C khởi kiện yêu cầu trả lại đất là không có căn cứ. Nay ông có yêu cầu phản tố yêu cầu Tòa án công nhận phần đất theo đo đạc có diện tích 381,1m² cho ông.

Quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa, ông T1 đồng ý và yêu cầu Tòa án sử dụng kết quả đo đạc, định giá sau để làm căn cứ giải quyết vụ án: Biên bản đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ ngày 05/11/2020 do Tòa án lập; Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý (tranh chấp) số: 85/2021 ngày 14/01/2021 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện D và kết quả định giá theo biên bản định giá ngày 18/3/2021 của Hội đồng định giá tài sản tranh chấp huyện D.

Chứng cứ ông T1 cung cấp: 01 bản tự khai ngày 05/11/2020 (bản phô tô), biên bản lấy lời khai ngày 18/8/2023 (bản chính), đơn phản tố ngày 18/8/2023 (bản chính) và các biên lai nộp thuế (bản phô tô).

* Quá trình tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Xuân N, bà Nguyễn Thị Ánh T3 và ông Nguyễn Văn T2 trình bày:

Bà Nguyễn Thị Xuân N, bà Nguyễn Thị Ánh T3, ông Nguyễn Văn T2 thống nhất với ý kiến của ông C, không có bổ sung ý kiến gì khác và yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt.

* Quá trình tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh V trình bày:

Bà V thống nhất với ý kiến của ông T1, không có bổ sung ý kiến gì khác và yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt.

* Quá trình tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thảo V1 và bà Nguyễn Thị Thủy T4 trình bày:

Bà Nguyễn Thảo V1 và bà Nguyễn Thị Thủy T4 thống nhất với ý kiến của ông C, không có bổ sung ý kiến gì khác và yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt.

* Quá trình tố tụng, tại Văn bản số 1867/UBND-BTCD ngày 09/9/2021 và Công văn số 109/UBND-BTCD ngày 19/01/2022 của Ủy ban nhân dân huyện D có ý kiến:

Phần đất tranh chấp có diện tích 381,1m² thuộc thửa đất số 901 (thửa cũ một phần thửa đất số 167, 168, tờ bản đồ số 16, trên bản đồ địa chính năm 1999 thì thửa đất 901, tờ bản đồ số 16 chưa được cấp giấy cho hộ gia đình, cá nhân nào. Thửa đất 901, tờ bản đồ số 16, tọa lạc tại khu phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương do ông Nguyễn Đình T1 sử dụng trường hợp không có tranh chấp có được xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay không đề nghị Tòa án nhân dân huyện liên hệ Ủy ban nhân dân thị trấn D xác minh làm rõ.

* Quá trình tố tụng giải quyết vụ án, tại Văn bản số 178/CNVPĐ KĐĐ-ĐK&CGCN của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện D có ý kiến:

Phần đất tranh chấp đo đạc thực tế có diện tích 381,1m² có 204,1m² thuộc thửa đất số 167, tờ bản đồ số 16 đã bị thu hồi theo Quyết định số 688/QĐ-UBND ngày 02/4/2013 của UBND huyện D để xây dựng Trung tâm Văn hóa huyện D. Thửa đất số 168 chưa được cấp cho hộ gia đình, cá nhân nào.

Bản án dân sự sơ thẩm số 96/2023/DS-ST ngày 11/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương đã tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” của ông Nguyễn Văn C đối với ông Nguyễn Đình T1 đối với phần đất tranh chấp có diện tích 381,1m² thuộc thửa đất số 901, tờ bản đồ số 16, tọa lạc tại khu phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương.
  2. Chấp nhận yêu cầu phản tố về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” của ông Nguyễn Đình T1 đối với ông Nguyễn Văn C đối với phần đất tranh chấp có diện tích 381,1m² thuộc thửa đất số 901, tờ bản đồ số 16, tọa lạc tại khu phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương.
  3. Hưởng Đông giáp đường H nhựa dài 7,11m.
  4. Hưởng Tây giáp thửa 867 dài 6,90m.
  5. Hưởng Nam giáp thửa 868 từ cạnh 1 đến cạnh 2 dài 35,50m, từ cạnh 2 đến cạnh 3 dài 14,58m.
  6. Hưởng Bắc giáp thửa 167 dài 50,01m.
  7. (khu đất có sơ đồ bản vẽ kèm theo).

    Ông T1 được quyền đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để kê khai, đăng ký làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 26/9/2023, nguyên đơn ông Nguyễn Văn C có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả lại diện tích đất 381,1m² thuộc thửa đất số 901, tờ bản đồ số 16, tọa lạc tại khu phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo. Bị đơn giữ nguyên yêu cầu phản tố. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

* Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng.

- Về nội dung: Các bên đương sự tranh chấp phần đất có diện tích 381,1m² thuộc thửa 901 (thuộc 01 phần của thửa đất số 167 và 168 trên bản đồ địa chính năm 1999), trên đất có 01 căn nhà tường cấp 4 do ông T1 xây dựng từ năm 1988 đến nay.

Tại Công văn số 744/CNVPĐKĐĐ-ĐK&CGCN ngày 15/7/2021; Công văn số 178/CNVPĐKĐĐ-ĐK&CGCN ngày 10/02/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện D và Công văn số 1867/UBND-BTCD ngày 09/9/2021 của Ủy ban nhân dân huyện D xác định:

“- Diện tích 381,1m² đất tranh chấp thuộc thửa đất số 901 (thửa cũ thuộc một phần thửa đất số 167, thửa 168), tờ bản đồ số 16.

Trong đó diện tích thửa số 167 là 204,1m², diện tích thửa đất số 168 là 177,0m².

- Trên bản đồ địa chính năm 1999 thửa đất số 167, tờ bản đồ số 16 đã được cấp QSD đất cho ông Nguyễn Văn C với tổng diện tích 17.548m², thửa đất số 168 chưa được cấp quyền sử dụng đất cho hộ gia đình cá nhân nào.

- Thửa đất số 167, tờ bản đồ số 16, tọa lạc tại thị trấn D đã được biến động tách thửa chuyển quyền với tổng diện tích 7.321m2 và thu hồi theo Quyết định số 688/QĐ-UBND ngày 02/4/2013 của Ủy ban nhân dân huyện D với diện tích 10.227m², thu hồi xây dựng Trung tâm Văn hóa huyện D.”

Qúa trình giải quyết Tòa án cấp sơ thẩm không thu thập hồ sơ thu hồi đất đối với thửa đất số 167 theo Quyết số 688/QĐ-UBND ngày 02/4/2013 của UBND huyện D, Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng “ngoài thực địa Trung tâm Văn hóa huyện D xây dựng hàng rào kiên cố không nằm trong thửa đất đã thu hồi theo Quyết định số 688/QĐ-UBND”, nhưng giao diện tích đất 381,1m² cho bị đơn ông T1 sử dụng, trong đó có một phần diện tích thửa 167 là 204,1m² đã bị thu hồi, là chưa thu thập đầy đủ hồ sơ để xác định diện tích bị thu hồi đối với thửa đất số 167 là không bảo đảm cho việc thi hành án và quá trình giải quyết mặc dù các đương sự đồng ý với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và kết quả đo đạc ngày 05/11/2020 của hồ sơ vụ án thụ lý trước đó (đã đình chỉ do rút đơn khởi kiện), nhưng các tài sản trên đất còn đang tranh chấp, không xem xét thẩm định lại, mà Tòa sơ thẩm khi tuyên án không giao các tài sản trên đất cho ai được quyền quản lý, sử dụng dẫn đến khó khăn cho công tác thi hành án.

Từ những phân tích trên xét thấy, quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm không thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ và tuyên án không giao cho ai quản lý, sử dụng đối với các tài sản trên đất là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng cần thiết hủy án sơ thẩm để giao về cho Tòa án sơ thẩm thụ lý giải quyết lại theo đúng quy định.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308, khoản 1 Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Hủy Bản án dân sự số 96/2023/DS-ST ngày 11/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương, chuyển hồ sơ về cho Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng thụ lý giải quyết lại theo quy định.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn C làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định tại Điều 271, 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên hợp lệ.

[1.2] Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm các ông, bà Nguyễn Thị Xuân N, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Thị Ánh T3, Nguyễn Thị Thanh V, Nguyễn Thảo V1, Nguyễn Thị Thủy T4, Ủy ban nhân dân huyện D đều có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự có tên trên theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Nguyên đơn cho rằng, nguồn gốc phần đất tranh chấp do nguyên đơn khai phá năm 1976. Năm 1988, nguyên đơn xây căn nhà cấp 4 trên đất cho mẹ vợ (bà Bùi Thị N1) ở nhờ, năm 1989, bị đơn không có nhà ở nên xin nguyên đơn ở nhờ nhà này. Năm 2002, hộ nguyên đơn được Ủy ban nhân dân huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 167, tờ bản đồ số 16 với diện tích sử dụng 17.548m². Năm 2012, nguyên đơn có nhu cầu chuyển nhượng đất, khi tiến hành đo đạc nguyên đơn mới phát hiện diện tích đất nguyên đơn xây nhà cho mẹ và bị đơn ở nhờ qua đo đạc thực tế 381,1m² không nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp. Sau khi bà Bùi Thị N1 chết, nguyên đơn đi kê khai đăng ký diện tích đất nêu trên thì bị đơn ngăn cản. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả lại cho ông diện tích đất 381,1m² thuộc thửa đất số 901 (thửa cũ 167, 168), tờ bản đồ số 16, tọa lạc tại khu phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương.

[2.2] Bị đơn cho rằng, nguồn gốc đất tranh chấp là do bị đơn khai phá năm 1988, bị đơn xây dựng nhà ở ổn định và có đóng thuế hàng năm. Bị đơn phản tố yêu cầu công nhận diện tích đất 381,1m² thuộc quyền sử dụng của bị đơn.

[2.3] Xét, tại bản đồ địa chính ngày 14/01/2021 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện D thể hiện: Tổng diện tích đất tranh chấp 381,1m² thuộc thửa mới 901 (thửa cũ 167, 168 trên bản đồ năm 1999).

Tại Công văn số 744/CNVPĐKĐĐ-ĐK&CGCN ngày 15/7/2021; Công văn số 178/CNVPĐKĐĐ-ĐK&CGCN ngày 10/02/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D và Công văn số 1867/UBND-BTCD ngày 09/9/2021 của Ủy ban nhân dân huyện D đã xác định:

- Diện tích 381,1m² đất tranh chấp thuộc thửa đất số 901 (thửa cũ thuộc một phần thửa đất số 167, thửa 168), tờ bản đồ số 16.

Trong đó diện tích thửa 167 là 204,1m², diện tích thửa đất số 168 là 177,0m².

- Trên bản đồ địa chính năm 1999 thửa đất số 167, tờ bản đồ số 16 đã được cấp quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn C với tổng diện tích 17.548m², thửa đất số 168 chưa được cấp quyền sử dụng đất cho hộ gia đình cá nhân nào.

- Thửa đất số 167, tờ bản đồ số 16, tọa lạc tại thị trấn D đã được biến động tách thửa chuyển quyền với tổng diện tích 7.321m² và thu hồi theo Quyết định số 688/QĐ-UBND ngày 02/4/2013 của Ủy ban nhân dân huyện D với diện tích 10.227m², thu hồi xây dựng Trung tâm Văn hóa huyện D.

Tòa án cấp sơ thẩm đã không thu thập hồ sơ thu hồi đất đối với thửa đất số 167 theo Quyết số 688/QĐ-UBND ngày 02/4/2013 của UBND huyện D, chưa làm rõ nguyên đơn đã nhận tiền bồi thường hay chưa? có khiếu nại việc thu hồi đất hay không? Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng ngoài thực địa Trung tâm Văn hóa huyện D xây dựng hàng rào kiên cố không nằm trong thửa đất đã thu hồi theo Quyết định số 688/QĐ-UBND, từ đó giao diện tích đất 381,1m² cho bị đơn sử dụng trong đó có một phần diện tích thửa 167 là 204,1m² đã bị thu hồi, như vậy sẽ không thi hành án được.

[2.4] Như nhận định trên, thửa đất số 167 đã bị thu hồi theo Quyết định số 688/QĐ-UBND để xây dựng Trung tâm Văn hóa huyện D. Tòa án cấp sơ thẩm không đưa Trung tâm Văn hóa huyện D vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, làm ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

[2.5] Trên đất tranh chấp có căn nhà cấp 4, nguyên đơn và bị đơn đều xác định nhà cấp 4 do các đương sự xây dựng. Tòa án cấp sơ thẩm công nhận đất cho bị đơn quản lý, sử dụng nhưng không giải quyết tài sản trên đất, dẫn đến việc không thi hành án được.

[2.6] Ngày 22/4/2022, Tòa án cấp sơ thẩm ban hành Thông báo thụ lý vụ án số 183/TB-TLVA, quá trình tố tụng Tòa án cấp sơ thẩm đã sử dụng Công văn số 234/TA-DS ngày 04/10/2021 (của vụ án thụ lý số 414/TB-TLVA ngày 09/10/2020), cho rằng Ủy ban nhân dân huyện D có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và tiến hành xét xử vắng mặt Ủy ban nhân dân huyện D, làm ảnh hưởng quyền và lợi ích của Ủy ban nhân dân huyện D.

[3] Từ những phân tích trên, nhận thấy Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm về thủ tục tố tụng và điều tra, thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, giải quyết chưa đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự, cấp phúc thẩm không thể khắc phục được. Nguyên đơn kháng cáo yêu cầu sửa Bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả lại diện tích đất 381,1m² thuộc thửa đất số 901, tờ bản đồ số 16, tọa lạc tại khu phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương là chưa phù hợp. Hội đồng xét xử chỉ có cơ sở chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 96/2023/DS-ST ngày 11/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương để xét xử lại.

[5] Ý kiến của Kiểm sát viên là phù hợp.

[6] Án phí dân sự phúc thẩm: Do hủy án sơ thẩm nên nguyên đơn ông Nguyễn Văn C không phải chịu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 148, khoản 3 Điều 308 và Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn C.
  2. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 96/2023/DS-ST ngày 11/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương; chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng xét xử lại theo quy định pháp luật.
  3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn C không phải nộp.

    Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Chi cục THADS huyện Dầu Tiếng;
  • - TAND huyện Dầu Tiếng;
  • - Lưu: Hồ sơ, Tòa dân sự, Tổ HCTP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2024/DS-PT ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 16/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/01/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hủy bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger