TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 26/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 26/4/2024
V/v: Tranh chấp Hôn nhân gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Duy Luân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Hường
- Bà Bùi Thị Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huế - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa:
Ông Đỗ Hải Bằng - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 02/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2024 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐXX-ST ngày 09/4/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Trần Văn D, sinh năm 1993
ĐKHKTT: Thôn P, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
Địa chỉ hiện nay: số E, đoạn A, đường H, phường T, quận T, thành phố Đ, Đài Loan.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1998
ĐKHKTT: Thôn P, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
Địa chỉ hiện nay: số I đường B, khu phố G, tổ E, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh.
(Anh D, chị H đều xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, lời khai cùng các tài liệu chứng cứ đã xuất trình nguyên đơn là anh Trần Văn D trình bày và có yêu cầu khởi kiện như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị Ngọc H tự nguyện kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có được tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống, có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Bình vào ngày 19/7/2016. Trong quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau do không cùng quan điểm sống và không hợp nhau. Đến tháng 4/2022 chị H đi vào Bình Dương làm việc, mâu thuẫn càng trở nên gay gắt, vợ chồng không hàn gắn được. Nhận thấy vợ chồng không thể chung sống cùng nhau nên anh đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình giải quyết cho anh được ly hôn chị H.
Về con chung: Vợ chồng anh có 01 con chung là Trần Minh H1, sinh ngày 10/01/2017 hiện đang ở cùng ông bà nội tại xóm I, thôn P, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Ly hôn, anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con Huyên, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không vay nợ chung, không cho ai vay nợ nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Hiện nay chị H đang sinh sống, làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh tuy nhiên vẫn thường xuyên về Thái Bình, anh chị đã thoả thuận lựa chọn Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình là nơi giải quyết vụ án ly hôn giữa anh chị.
- Tại Bản tự khai ngày 16/02/2024, chị H trình bày: Chị và anh D tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Bình vào ngày 19/7/2016. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống tại thôn P, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Cuộc sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do không cùng quan điểm sống, gia đình anh D phản đối việc chị tiếp tục học đại học, thời gian đó anh D đi làm tại Hải Dương ít quan tâm đến chị. Đến tháng 9/2017, anh D đi lao động tại Đài Loan, từ đó vợ chồng ít quan tâm nhau. Vợ chồng mâu thuẫn âm ỉ kéo dài đến cuối năm 2022 do cả hai đã hết tình cảm nên thống nhất ly hôn. Chị H vào thành phố Hồ Chí Minh làm việc từ khoảng tháng 8/2022, tuy nhiên để thuận tiện giải quyết ly hôn nên anh chị nhất trí giải quyết ly hôn tại Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình.
Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Trần Minh H1, sinh ngày 10/01/2017 hiện đang ở cùng bố mẹ đẻ anh D. Ly hôn, chị đồng ý để anh D trực tiếp nuôi dưỡng con H1, nếu anh D bận đi làm ăn phải gửi cháu H1 cho ông bà nội trông giúp thì chị cũng đồng ý. Chị sẽ có trách nhiệm thăm nom con thường xuyên. Về tài sản chung, nợ chung: Anh chị không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Tại Biên bản lấy lời khai ngày 22/3/2024, cháu Trần Minh H1 trình bày: Nếu bố mẹ cháu ly hôn, cháu có nguyện vọng ở với bố và ông bà nội nhưng mẹ phải thường xuyên về thăm cháu.
- Tại Đơn đề nghị đề ngày 22/3/2024, ông Trần Văn T (là bố đẻ của anh Trần Văn D) trình bày: Do anh D và chị H đều đi làm ăn xa nên hiện nay cháu H1 đang ở cùng vợ chồng ông tại xóm I, thôn P, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Ly hôn, anh D có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H1, vợ chồng ông sẽ giúp đỡ anh D chăm sóc cháu đến khi anh D về nước.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, những người tiến hành tố tụng và nguyên đơn; bị đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56, Luật Hôn nhân và gia đình xử cho anh Trần Văn D được ly hôn chị Nguyễn Thị Ngọc H, giao con Trần Minh H1 cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng, chấp nhận việc anh D không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết. Về án phí: Anh D phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Xét thấy, bị đơn là chị Nguyễn Thị Ngọc H có hộ khẩu thường trú tại: Số I đường B, khu phố G, tổ E, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh. Hiện nay nguyên đơn là anh Trần Văn D đang cư trú tại Đài Loan, nguyên đơn, bị đơn đều lựa chọn Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình giải quyết vụ án này và đều đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo Điều 39, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ là biên bản lấy lời khai của cháu Trần Minh H1 nên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa theo quy định Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, anh D, chị H tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau. Từ tháng 4/2022, chị H vào Bình Dương, sau đó vào Hồ Chí Minh sinh sống, làm việc, anh D đi lao động tại Đài Loan. Cả anh D và chị H đều xác định đã hết tình cảm và đề nghị Toà án giải quyết cho ly hôn. Như vậy có căn cứ để xác định mẫu thuẫn vợ chồng trầm trọng kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải chấp nhận xử cho anh D được ly hôn chị H là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về quan hệ con chung: Anh D, chị H có 01 con chung là Trần Minh H1, sinh ngày 10/01/2017 hiện đang ở cùng ông bà nội tại Xóm I, thôn P, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Anh D và chị H đều đề nghị Toà án giao con Huyên cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng, cháu H1 cũng có nguyện vọng ở với bố và ông bà nội. Hiện anh D đang lao động ở Đài Loan, nên anh đã ủy quyền cho ông Trần Văn T là bố đẻ chăm sóc cháu H1 đến khi anh về nước, ông T đồng ý nhận uỷ quyền. Hội đồng xét xử xét thấy cháu H1 đang sinh sống, học tập ổn định, được chăm sóc tốt, do đó cần xử giao con chung Trần Minh H1, sinh ngày 10/01/2017 cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của các bên và Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận việc anh D không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.
[4] Về tài sản chung: Anh D, chị H không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra giải quyết.
[5] Về án phí: Anh D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 235, Điều 271, Điều 273và Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Trần Văn D được ly hôn chị Nguyễn Thị Ngọc H.
- Về quan hệ con chung: Xử giao con chung là Trần Minh H1, sinh ngày 10/01/2017 cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng, chấp nhận việc anh D không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.
Chị H có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Anh D, chị H có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định.
- Về quan hệ tài sản: Không có yêu cầu, không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Anh Trần Văn D phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Đối trừ số tiền 300.000 đồng anh D đã nộp theo biên lai số 0000074 ngày 08/01/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình, anh D đã thực hiện xong nghĩa vụ án phí.
Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Vũ Duy Luân |
Bản án số 26/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 26/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: D- H
