Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN P

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2024/HSST

Ngày: 24/ 4 / 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P -TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Hồng Nam;

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Chuyên;
  2. Ông: Nguyễn Ngọc Ngư.

Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện P.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P tham gia phiên tòa: Ông Triệu Đức Hoàng; Ông Đinh Văn Trọng – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại Điểm cầu trung tâm hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện P và Điểm cầu thành phần nhà tạm giữ Công an huyện P Tòa án xét xử trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2024/TLST-HS, ngày 29 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2024/QĐXXST – HS ngày 12 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

Đối với bị cáo: Họ và tên: Vũ Thị T; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 14 tháng 9 năm 1993, tại P, Thái Nguyên;

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm Yên Thuỷ 1, xã Yên Lạc, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.

Trình độ học vấn: 05/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Họ và tên cha: Vũ Văn N, sinh năm 1957; Họ và tên mẹ: Vũ Thị B, sinh năm 1957

Chồng: Không có; Có 02 con: (con lớn sinh năn 2014; con nhỏ sinh năm 2017).

Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ 04 trong gia đình.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giam kể từ ngày 23/01/2024, tại Nhà tạm giữ Công an huyện P. (Có mặt)

Người bị hại: Chị Phàn Mùi S, sinh năm 2004; Trú tại: Xóm N, xã P, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt)

Người làm chứng:

  1. Anh Vũ Phan T1, sinh năm 1990; Trú tại: TDP T, TT Đu, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt)
  2. Anh Lã Quý T2, sinh 1971; Trú tại: Xóm N, xã P, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 15/11/2023, Vũ Thị T, sinh năm 1993; Trú tại: Xóm Y, xã Y, huyện P đến chơi nhà chị Phàn M Sỉ sinh năm 2004; Trú tại: Xóm N, xã P, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Trong lúc ngồi chơi nói chuyện T có hỏi S việc vay tiền và cho xem nhẫn cưới, S nói không có tiền cho vay và đưa cho T xem cặp nhẫn cưới, sau đó S cất cặp nhẫn cưới vào tủ đựng quần áo của gia đình nhưng không khoá rồi đi đặt nước để tắm cho con. Sau đó, lợi dụng sơ hở lúc chị S đi đặt nước tắm cho con, T mở tủ đựng quần áo lấy trộm 02 (hai) chiếc nhẫn vàng (nhẫn cưới), 01 căn cước công dân mang tên Phàn Mùi S và 50.000đ (năm mươi ngàn đồng), rồi ra về. Sau khi lấy trộm được tài sản, T đã đi đến hiệu vàng bạc Tiêu L tại tổ dân phố T, thị trấn Đ bán số tài sản trên được 2.000.000đ (hai triệu đồng). Thêm đi xuống tỉnh Bắc Ninh, tiêu xài cá nhân hết số tiền nêu trên. Về phía chị Phàn Mùi S, sau khi phát hiện bị mất tài sản (là cặp nhẫn vàng) đã làm đơn trình báo đến Công an xã P. Công an xã P tiếp nhận và chuyển đến Cơ quan Công an huyện P giải quyết theo thẩm quyền. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 116/KL-HĐĐGTS ngày 23/01/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P, tỉnh Thái Nguyên kết luận:

  • - 01(một) đôi nhẫn vàng tây, loại vàng 10k, có khối lượng 0,9 chỉ. Tại thời điểm định giá có giá là: 2.500.000đ/01 chỉ.

Tài sản mất trộm được xác định: 0,9 chỉ x 2.500.000đ= 2.250.000đ (hai triệu, hai trăm năm mươi ngàn đồng).

Về phần dân sự: Chị Phàn Mùi S yêu cầu chị T phải bồi thường 02 nhẫn vàng, đến nay T chưa bồi thường.

Vật chứng của vụ án: Hiện không thu hồi được.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vũ Thị T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nêu trên. Xác định quá trình điều tra không bị ép cung, nhục hình, khai báo trong tình trạng sức khỏe tốt, tỉnh táo. Được nhận bản cáo trạng, đã đọc kỹ và nghe công bố tại phiên tòa, không thắc mắc về nội dung bản cáo trạng. Được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Do có hành vi trên tại bản cáo trạng số 12/CT-VKSP ngày 28 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện P truy tố bị cáo Vũ Thị T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS.

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố theo bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, Điều 51; Điều 38; Điều 48 Bộ luật hình sự; 106, 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Luật phí và lệ phí Tòa án. Điều 589 Bộ luật dân sự.

Đề nghị: Xử phạt bị cáo Vũ Thị T, từ 06 đến 07 tháng tù.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho người bị hại giá trị 01(một) đôi nhẫn vàng tây, loại vàng 10k, có khối lượng 0,9 chỉ. Tại thời điểm định giá có giá là: 2.500.000đ/01 chỉ. 0,9 chỉ x 2.500.000đ= 2.250.000đ (hai triệu, hai trăm năm mươi ngàn đồng).

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phần tranh tụng: Bị cáo, người bị hại không có tranh tụng gì.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là sai, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cở sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người tham gia tố tụng khác. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét về hành vi của bị cáo: Bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo là khách quan, phù hợp với biên bản làm việc, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá tài sản, lời khai của người bị hại và những chứng cứ, tài liệu khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án, như vậy có đủ cơ sở xác định: Khoảng 15 giờ, ngày 15/11/2023, tại nhà của gia đình chị Phàn Mùi S thuộc xóm N, xã P, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Vũ Thị T có hành vi trộm cắp 02(hai) nhẫn vàng tây, có giá trị 2.250.000đ (hai triệu, hai trăm năm mươi ngàn đồng) đem bán và tiêu sài hết.

Như vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

Điều 173 quy định.

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ......... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Như vậy, Cáo trạng số 12/CT-VKSP ngày 28/3/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Vũ Thị T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét tính chất của vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương.

[4] Xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

  • - Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự phạm tội lần đầu.
  • - Về tình tiết tăng năng, giảm nhẹ: Bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ là “phạm tội lần đầu”,“người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm i, điểm s, khoản 1 Điều 51 BLHS, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt áp dụng: Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các yếu tố về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo thấy rằng: Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo đã gây thiệt hại cho người bị hại và đến nay bị cáo chưa bồi thường khắc phục được hậu quả đã gây ra. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm bằng hình phạt tù mới đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

  • - Về hình phạt bổ sung: Không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự vì bị cáo không có tài sản riêng và hiện đang bị tạm giam.
  • - Vật chứng của vụ án: Bị cáo khai bán cho hiệu vàng Tiêu Lồ nhưng Cơ quan điều tra không thu hồi được.

[6] Về dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho người bị hại giá trị 01(một) đôi nhẫn vàng tây, loại vàng 10k, có khối lượng 0,9 chỉ. Tại thời điểm định giá có giá là: 2.500.000đ/01 chỉ. 0,9 chỉ x 2.500.000đ= 2.250.000đ (hai triệu, hai trăm năm mươi ngàn đồng). Tại phiên tòa chị S người bị hại cũng yêu cầu bị cáo phải trả theo giá trị định giá là 2.250.000đ.

[7] Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[9] Mức hình phạt cũng như các vấn đề khác mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là có căn cứ, HĐXX cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

1. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173 BLHS; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Vũ Thị T 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/01/2024.

Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.

Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Về dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 589 Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo Vũ Thị T phải bồi trường cho người bị hại số tiền 2.250.000₫ (hai triệu,hai trăm năm mươi ngàn đồng).

Kể từ ngày người có quyền được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chậm thi hành thì phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm thi hành theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Luật phí và lệ phí. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Án xử công khai sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh TN;
  • - VKSND tỉnh TN;
  • - Sở Tư pháp tỉnh TN;
  • - VKSND H. P;
  • - Công an H. P;
  • - Chi cục THADS - H. P;
  • - UBND xã, TT;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Ngô Hồng Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2024/HSST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 16/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 15 giờ, ngày 15/11/2023, tại nhà của gia đình chị Phàn Mùi S thuộc xóm N, xã P, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Vũ Thị T có hành vi trộm cắp 02(hai) nhẫn vàng tây, có giá trị 2.250.000đ (hai triệu, hai trăm năm mươi ngàn đồng) đem bán và tiêu sài hết.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger