Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐĂK TÔ

TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2024/HS-ST

Ngày 23-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK TÔ - TỈNH KONTUM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Minh Huy.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. 1/ Bà Hoàng Thị Thanh Hải – Nghề nghiệp: Giáo viên Trường THCS Nguyễn Du, huyện Đăk Tô.
  2. 2/ Ông Nguyễn Văn Huynh – Nghề nghiệp: Bí thư Đoàn thanh niên xã Tân Cảnh, huyện Đăk Tô.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tú – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 23/9/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/QĐXXST-HS ngày 09/9/2024 đối với các bị cáo:

  1. 1. Họ và tên: A M, tên gọi khác: Không; sinh ngày 01/01/1984 tại tỉnh Kon Tum; trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Xơ Đăng; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông A B và bà Y T; có vợ là Y T1 và 10 người con (lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2022); tiền án; tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại. Có mặt.
  2. 2. Họ và tên: A H, tên gọi khác: Không; sinh ngày 26/7/2007 tại tỉnh Kon Tum; trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Xơ Đăng; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông A J và bà Y D; gia đình có 12 anh chị em, bị cáo là con thứ 3, chưa có vợ con; tiền án; tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo A H: Bà Đặng Thị Kim N.

Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh K. Có mặt.

Người đại diện hợp pháp cho A H: Ông A J, sinh năm 1980 và bà Y D, sinh năm 1981. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo A M: Ông Nguyễn Văn Đ.

Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh K. Có mặt.

- Bị hại:

  1. 1. A M, sinh năm 1984.
  2. 2. A H, sinh ngày 26/7/2007.

Người đại diện hợp pháp của A H: Ông A J, sinh năm 1980 và bà Y D, sinh năm 1981.

  1. 3. Chị Y T1, sinh năm 1985.

Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Có mặt.

  1. 4. Chị Y M1, sinh năm 1987.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh A G, sinh năm 1998.

HKTT: Thôn L, xã Đ, huyện N, tỉnh Kon Tum.

Chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Có mặt.

- Người làm chứng:

  1. 1. A N1, sinh ngày 03/02/2010. Có mặt

Người đại diện hợp pháp của A N1: Anh A G, sinh năm 1998. Có mặt.

  1. 2. Y Nghiên, sinh ngày 16/8/2011. Vắng mặt.

Người đại diện theo pháp luật của Y N2: Bà Y N3 (bà ngoại), sinh năm 1962. Vắng mặt.

  1. 3. Y Thu, sinh ngày 01/6/2011. Vắng mặt.

Người đại diện theo pháp luật của Y T2: Chị Y H1 (mẹ đẻ), sinh năm 1987. Vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ 00 phút ngày 11/12/2023, A M sau khi uống rượu đã điều khiển xe mô tô BKS: 82H1-100.66 chở vợ là Y T1, con là Y N4 và Y M1 đi về nhà Y M1. Đến đoạn Km 07+900 đường ĐH53 đoạn qua thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, A M điều khiển xe mô tô rẽ trái theo chiều đi để vào nhà của Y M1 mà không có tín hiệu báo hướng rẽ, không chú ý quan sát khi sang đường nên đã va chạm với xe mô tô BKS: 82E1-215.41 do A H điều khiển chở theo A N1, Y N2 và Y T2, lưu thông ngược chiều dẫn đến tai nạn giao thông. A M, Y T1, A H bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh K. Y Mét bị thương nhẹ được đưa đi Trạm y tế xã Đ khâu vết thương. A N1, Y N2, Y T2 và Y N4 không bị thương tích gì. Hai xe mô tô bị hư hỏng.

Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể số: 06, 07, 08/KLTTCT-TTPY ngày 19/01/2024 và số 18/ KLTTCT-TTPY ngày 05/02/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh K kết luận: tỷ lệ tổn thương trên cơ thể của Y T1 là 41%, A H là 41%, Y M1 là 06%, A M là 67%.

Tiến hành xét nghiệm nồng độ cồn trong máu kết quả: A Mrong: 346.4 mg/dl (decilit), A H là 197.7 mg/dl.

Kết luận định giá tài sản số 02/KL-ĐGTS ngày 18/01/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Đ xác định, thiệt hại của 02 xe mô tô sau tai nạn là: xe mô tô BKS: 82H1-100.66 là 822.500 đồng, xe mô tô BKS: 82E1-215.41 là 364.800 đồng.

Hiện trường vụ án là đoạn đường thẳng được trải nhựa, mặt đường không êm thuận, có độ dốc 2,1% hướng huyện Đ đi huyện N, lòng đường rộng 3,9m, không có vạch kẻ đường. Điểm va chạm là phần bánh trước xe mô tô BKS: 82E1-215.41 va chạm vào bên phải bánh trước xe mô tô BKS: 82H1-100.66, tâm điểm đụng nằm tại phần đường bên phải theo hướng khám nghiệm, tâm điểm đụng cách mép đường chuẩn 2,7m.

Tại Cáo trạng số 16/CT-VKS ngày 29/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum truy tố các bị cáo A M và A H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo A M từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo A H từ 27 tháng đến 31 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 54 đến 60 tháng.

Người bào chữa cho bị cáo A M trình bày lời bào chữa: Nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát về phần tội danh. Tuy nhiên về phần hình phạt là nghiêm khắc, bị cáo là người dân tộc thiểu số, không đi học nên không hiểu biết pháp luật, vụ án không có hậu quả chết người xảy ra, nhà bị cáo đông con, bị cáo là lao động chính, 02 vợ chồng đều bị thương tích nặng sau tai nạn, hiện vẫn còn phải đi điều trị, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, thực sự ăn năn, hối cải, có nơi cư trú rõ ràng, từ trước đến nay chấp hành tốt pháp luật của Nhà nước. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao, xử phạt bị cáo mức 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Người bào chữa cho bị cáo A H trình bày lời bào chữa: Nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo chưa đủ 18 tuổi, là người dân tộc thiểu số, nhận thức về pháp luật còn hạn chế. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất theo Viện kiểm sát đề nghị là 27 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến tranh luận, những người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa vắng mặt 02 người làm chứng là Y N2 và Y T2, Hội đồng xét xử xét thấy họ đã có lời khai trong hồ sơ, đều có đơn xin vắng mặt, không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên vẫn tiến hành xét xử.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử đã có cơ sở để khẳng định:

Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 11/12/2023 tại Km 07 + 900 đường ĐH53 đoạn qua thôn Đ, xã Đ, huyện Đ xảy ra vụ tai nạn giao thông, nguyên nhân là do bị cáo A M điều khiển xe mô tô BKS: 82H1-100.66 chở theo vợ, con và chị Y M1, khi chuyển hướng đi để vào nhà của Y M1 nhưng không có tín hiệu báo hướng rẽ, không chú ý quan sát khi sang đường. Cùng lúc này, A H điều khiển xe mô tô BKS 82E1-215.41 đi theo chiều ngược lại, chở theo Y N2, A N1 và Y T2, không chú ý quan sát xe ngược chiều chuyển hướng qua đường dẫn đến tai nạn giao thông giữa 2 xe. Hậu quả gây thương tích cho A H 41%, Y Thinh 4, Y Mét 06% và A M 67%. Gây thiệt hại về tài sản: xe mô tô BKS: 82H1-100.66 là 822. 500 đồng, xe mô tô BKS: 82E1-215.41 là 364.800 đồng. Tại thời điểm xảy ra tai nạn, bị cáo A M và A H đều không có giấy phép lái xe, có nồng độ cồn trong máu vượt quá mức quy định.

Hành vi của các bị cáo A M, A H đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Tô truy tố các bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường, khắc phục hậu quả; được các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và lỗi của các bị cáo:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm, ảnh hưởng đến sức khỏe, tài sản của người khác, gây mất trật tự an toàn giao thông tại địa phương. Vì vậy, phải có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra. Xét về lỗi gây ra tai nạn thấy rằng:

Đối với bị cáo A M: Điều khiển xe mô tô chuyển hướng nhưng không có tín hiệu báo hướng rẽ, không chú ý quan sát, không có giấy phép lái xe, trong máu có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, vi phạm khoản 8, khoản 9 Điều 8; khoản 1, khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ năm 2008, gây thương tích cho A H, Y T1 và Y M1 tổng cộng là 88%.

Đối với bị cáo A H: Điều khiển xe mô tô không chú ý quan sát, không giảm tốc độ khi có xe ngược chiều, không có giấy phép lái xe, trong máu có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, vi phạm khoản 8, khoản 9 Điều 8; khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ năm 2008, gây thương tích cho A M, Y T1 và Y M1 tổng cộng là 114%.

Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, thấy rằng tai nạn xảy ra là do lỗi của cả hai bị cáo, mức độ lỗi có phần tương đương nhau, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc, đánh giá khi quyết định hình phạt.

[5] Về hình phạt:

Bị cáo A M và vợ là Y T1 đều bị thương tích sau tai nạn, bị cáo bị vỡ đại tràng phải mở hậu môn nhân tạo vĩnh viễn, vợ chồng có 10 người con, trong đó có 8 cháu dưới vị thành niên, cháu nhỏ nhất sinh năm 2022. Bị cáo không đi học nên không hiểu biết pháp luật, hiện tại sức khỏe vẫn chưa ổn định. Vợ chồng đều làm nông, bản thân là người đàn ông trụ cột gia đình, nếu bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì sức khỏe của bị cáo sẽ không được đảm bảo, cuộc sống gia đình, vợ con bị cáo sẽ gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo cơ hội để tự cải tạo, giáo dục bản thân, có điều kiện cải thiện sức khỏe, chăm sóc gia đình tại nơi cư trú là phù hợp và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Đối với bị cáo A H là người dưới 18 tuổi, khả năng nhận thức pháp luật còn hạn chế, có thể uốn nắn, giáo dục tại nơi cư trú, đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo sửa chữa sai lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội.

Mặt khác, vụ án không có hậu quả chết người, các bị cáo có nhân thân tốt, nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, việc cho các bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự.

Căn cứ vào các phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử quyết định xử phạt bị cáo A M mức khởi điểm của khung hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đề nghị nhưng cho hưởng án treo; bị cáo A H sẽ áp dụng Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự để xử phạt bằng ¼ mức hình phạt đối với người thành niên phạm tội.

Đối với ý kiến của người bào chữa cho bị cáo A H là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận; đối với ý kiến của người bào chữa cho bị cáo A M, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần về xem xét cho hưởng án treo, còn về mức hình phạt đề nghị áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là 30 tháng tù và cho hưởng án treo là nhẹ, không phù hợp nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[6] Hình phạt bổ sung:

Xét thấy áp dụng hình phạt chính đã đủ nghiêm khắc nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Không ai có yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 xe mô tô BKS: 82E1-215.41, anh A G không biết việc A N1 lấy xe và giao cho A H điều khiển gây tai nạn. Xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với xe mô tô BKS: 82H1-100.66 của bị cáo A M, bị cáo đã mua lại của tiệm mua bán xe cũ tại huyện Đ. Xét không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án và thi hành án nên trả lại cho bị cáo là phù hợp.

[9] Về các vấn đề khác:

Vào tối ngày 11/12/2023, A G không biết việc A N1 lấy xe đi nên Cơ quan điều tra không xem xét hành vi giao xe cho người không đủ điều kiện điểu khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ đối với A G là có căn cứ.

Đối với việc A N1 tự ý lấy xe mô tô của A G, sau đó để A H điều khiển xe mô tô và gây tai nạn giao thông. Tại thời điểm đó, A N1 chưa đủ 14 tuổi nên không có cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với A N1 là đúng pháp luật.

[10] Về án phí:

Các bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. 1. Về tội danh:

    Tuyên bố các bị cáo A M, A H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

  2. 2. Về hình phạt:

    2.1. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo A M 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (23/9/2024).

    2.2. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo A H 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (23/9/2024).

    Giao bị cáo A M và A H cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cứ trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. 3. Về vật chứng:

    Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại cho bị cáo A M 01 xe mô tô biển kiểm soát 82H1-100.66, loại xe hai bánh màu đỏ đen, nhãn hiệu SYM, số loại GALAXY SR, số khung: RLGMD11HDED009208, số máy: VMVBACD009208, tình trạng đã bị hư hỏng sau tai nạn giao thông.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09/9/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Đăk Tô).

  4. 4. Về án phí:

    Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

    Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo A M và A H.

Các bị cáo, bị hại; người đại diện hợp pháp, người bào chữa cho bị cáo A H; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (23/9/2024).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kon Tum;
  • - VKSND tỉnh Kon Tum;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Kon Tum;
  • - VKSND huyện Đăk Tô;
  • - Chi cục THADS huyện Đăk Tô;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Đăk Tô;
  • - Bộ phận HSNV Công an huyện Đăk Tô;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Đăk Tô;
  • - Hồ sơ T.H.A hình sự;
  • - Bị cáo; những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu bản án; hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Minh Huy

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK TÔ - TỈNH KONTUM về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 16/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK TÔ - TỈNH KONTUM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: VI PHẠM GTĐB- A MRONG-A HINH
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger